-“PHẬT ra đời có thẩm quyền độc lập chứng minh vũ trụ . BỒ TÁT có quyền chứng minh chúng sanh cấp bậc tu chứng.″
Hiển thị các bài đăng có nhãn A. Lối Tu Y Tôn Chỉ Của Chư Phật. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn A. Lối Tu Y Tôn Chỉ Của Chư Phật. Hiển thị tất cả bài đăng

15/2/11

17. Đại Tập Kinh, Năm Thời Kỳ

• Toàn thể con người khôn trước Triều Đại. Nếu Triều Đại biết con người khôn phải lần theo con người hướng dẫn.

 • Bằng Triều Đại rõ biết trách nhiệm Quốc Gia, có bổn phận gìn giữ an lành cho dân chúng, hơn là trị an dân chúng thì con người mau phát triển đặng Quốc Thái Dân An.

 • Nếu Triều Đại biết hưởng ứng sự tu hành để Chư Tổ hướng dẫn  con người tu Tự Tánh Tỏ Tánh đặng Đạo Đức phát triển, nhà nhà được thanh bình sẽ có Quốc Thái Dân An.


– Vô Sư Kinh  















TẠI SAO ĐỌC KINH KHÔNG HIỂU? 

 Đức Bảo Tạng Phật khuyên Đức Di Lạc Tôn Phật viết Kinh.

  – Đức Di Lạc: Thưa viết đâu có ai đọc.
  – Đức Bảo Tạng Phật: Ông cứ viết đời này đọc không hiểu
    những đời kế tiếp tu tự tánh họ đọc sẽ hiểu.
 


Theo Kinh Đại Tập, sau khi Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật nhập Bát Đại Niết Bàn, đến nay1995 đã 2539 năm được phân làm năm thời kỳ. 

     • Một Là 500 Năm Thứ Nhất, Thời Kỳ Tri Kiến Giải Thoát. Trong thời này những chân tử của Đức Phật chịu tu theo y tôn, y chỉ, chịu tu SỬA TÁNH để TỰ TÁNH TỎ TÁNH, Minh Tâm, giải tật xấu, tu theo giáo pháp Phật, Thiền Định, Trí Tuệ thông Được Tri Kiến Giải Thoát. 

     • Hai Là 500 Năm Thứ Hai, Thời Kỳ Thiền Định. Trong thời này phần nhiều các Chân Tử tu tinh tấn, trí tuệ thanh tịnh, y giáo lý Phật tu thiền định, tùy công năng, công đức mà được chứng ngộ hữu lậu của Tiểu Thừa, cùng vô lậu của Đại Thừa. 

     • Ba Là 500 Năm Thứ Ba, Thời Kỳ Đa Văn. Trong thời này các chân tử y theo 12 bộ Kinh Phật mà tu hành, nghiên cứu, tranh luận Hiển, Mật, Đốn, Tiệm giáo. Con đường TỰ TÁNH TỎ TÁNH NHẸ DẦN. 

     • Bốn Là 500 Năm Thứ Tư, Thời Kỳ Chùa Tháp. Trong thời này, phần nhiều Bậc tín tâm QUÊN HẾT TỰ TÁNH TỎ TÁNH, sự tu hành chẳng cầu giải thoát nữa, thích công đức hữu lậu, tu như vậy sau khi chết được Phước Báo Nhân Thiên. 

     • Năm Là 500 Năm Thứ Năm, Thời Kỳ Người Tu Mất Hẳn Tự Tánh. Hay đấu tranh nhau, ghét, thương, ganh tỵ, nghi ngờ tồi phá lẫn nhau. Đặc biệt là chấp chỗ học vấn có bằng cấp cao, nghiên cứu nhiều Kinh Phật rồi cho mình đúng, tồi phá tranh giành, giết, hại nhau để đoạt danh, trục lợi. 

Năm thời kỳ này kéo dài trên 2500 năm tính theo Phật Lịch, xã hội Việt Nam cho đến hiện tình hỗn loạn trên thế giới, đã rơi trong thời kỳ Mạt Pháp, khiến nhiều Bậc học giả cho rằng thời kỳ này đã đến lúc Đức Di Lạc Hạ Lai. 

Như đã nêu ra ở phần trước, Đức Đại Lực Di Lạc Tôn Phật đã ra đời từ năm 1918 đến năm 1993 Ngài nhập Bát Đại Niết Bàn. Trong 37 năm hành đạo ở quả địa cầu chúng ta, Ngài dụng thân Long Thọ, khai đạo cho các cõi Tiên, Thần, Trời nữa chứ không phải chỉ cho Nhân Sinh. Khắp trong Tam Thiên Đại Thiên Thế giới, Ngài đều từng lúc, từng khi xuất Chánh Định đến nơi khai đạo và đem lại tự do cho tứ loài.

Ngài nguyện gánh vác tất cả các pháp để chúng sinh được thảnh thơi tu hành như những bậc tín tâm đều biết. Qua Hịch chứng minh vũ trụ, Ngài đã hoá giải sạch sẽ độc nhiễm trên thế giới, ngày nay và hậu lai được tu hành, dần dần sẽ được an lạc. Ngài nguyện đem tất cả bảo pháp đương thời Hạ Lai cứu độ chúng sanh, đưa tất cả chúng sanh tu tập pháp môn Sắc, Thinh, Hương, Vị, Súc Pháp mà không nhiễm đặng tự tại, vô ngại đến Đại Bi, Tổng Trì Đà La Ni Tạng Tri Kiến Giải Thoát./-

Sắc, Thinh, Hương, Vị, Súc Pháp mà không nhiễmđặng tự tại, vô ngại đến Đại Bi, Tổng Trì Đà La Ni Tạng Tri Kiến Giải Thoát.

– Đức Đại Lực Di Lạc Tôn Phật 1918 – 1993 

18. Sự tu hành thời Hạ Lai Mạt Pháp

Đoạn kinh dưới đây do chính Ngài ghi, lưu lại hậu thế:

“Đương thời Hạ Lai Mạt Pháp, sự tu hành thực chứng thật hiếm, vì sao? Vì thời Thượng Pháp có giáo lý, có thi hành để tu nên có thực chứng. Đến thời Trung Pháp có giáo lý, có thực hành tương song liền có thực chứng. Qua thời Hạ Lai Mạt Pháp có giáo lý nhưng kém thi hành, thành thử hiếm hoi thực chứng. Nơi kinh pháp có thực hành liền có sở đắc, chưa thực hành thì kinh pháp kia trở thành lý thuyết. Tu có chứng tri chăng cũng là chứng tri trên giả thuyết, biện tài chớ chẳng phải là thực chứng.” –T.V.

Còn rất xa với Chư Phật khi
nhân sinh chỉ biết cúng lạy
Sự tu hành không đem đến phá mê chấp để hiểu biết thì dù cho tu đến một ngàn kiếp cũng không lấy được một ngày tu. Đã là chúng sinh thì trí còn thấp kém, nếu đủ căn cơ, Phật ra đời ắt phải gặp. Căn cơ là các bậc từng tu cầu tri kiến giải thoát khỏi sanh tử luân hồi, còn chúng sinh lấy nhân duyên nên sự tu hành theo ý muốn. Sự tu hành theo vọng cầu ý muốn nhưng không hiểu vọng cầu đó là cái gì, ý muốn nó sẽ đưa ta về đâu. Do đó ta phải HÀNH sẽ được lợi ích vô kể. Như thế nào gọi là Hành? Hành là chuyên tu sửa tánh, đó là đường đi HÀNH GIÁC. Hành còn có nghĩa Hành Thâm Pháp giới để tỏ giới. Mỗi pháp giới là một tánh, sửa nhiều lần sẽ thâm nhập được Thiện Căn không còn độc, lại tự mình thấy được tánh tỏ tánh. Bậc tu biết sửa sai lầm sẽ có Trí Tuệ. Trí tuệ là cứu cánh của giải thoát.
Đã là chúng sinh tất nhiên phải bị mê lầm, dù tu lâu đến đâu cũng không thoát được mê lầm, nên chi miệng nói là TÂM nó chưa biết.

“Vì miệng nói Tâm chưa biết nên bậc Thiện Trí Thức mới khuyên –Miệng nói Tâm chưa biết thì cần phải học lại lời nói đã nói nơi miệng đi. Đến chừng miệng nói Tâm biết, hay Tâm đã biết miệng mới nói, đó gọi là Giác Tâm Tỏ Pháp.
Tình trạng này thời Đức Bổn Sư vẫn thường có Chư Tôn Giả đã từng thuyết pháp, có lúc thời pháp quá tầm tuyệt mỹ. Thế Tôn mới khai thị: Ông NƯƠNG VÀO CÔNG ĐỨC NHƯ LAI mới nói được như thế. Chừng đó Tôn Giả mới nhận biết, khi miệng nói tâm chưa biết, cần học lại lời nói của miệng. Đối với chúng sinh đang mơ màng, còn vọng tưởng, còn viễn vọng rất dễ lầm nhận, vẫn yên trí rằng miệng mình đã nói đương nhiên mình đã giác, dù muốn hoặc giả chưa muốn cũng bị lầm.” –T.V.

Trong lộ trình hành đạo, đã có lúc Ngài gặp Hoà Thượng, Đại Đức, Tăng Ni ở chùa, Ngài khai một câu, chư vị này không nhận được lại giảng cho Ngài nghe cả chục câu! Có lần Ngài tìm đủ phương tiện làm cho sư Quân giới khất sĩ tin để khai cho Tri Kiến Phật nhưng vị này không đủ công năng công đức để thọ nhận. Cuối cùng Ngài hiện thân cho làm bạn. Sư chỉ khen Ngài biện tài giỏi chớ không nhận được lời khai thị của Ngài.

“Khi Đức Thích Ca chưa thành Phật, đang còn là tu sĩ, Ngài đến cung kính cúng dường, chiêm ngưỡng lễ bái Đức Nhiên Đăng Phật. Đức Nhiên Đăng Phật mới thọ ký thời Trung Kiếp thành Phật với hiệu Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Sau Đức Bổn Sư thể hiện chỉ đạo thọ ký Di Lạc Tôn Phật cùng các hàng Bồ Tát đến các bậc vô học, hữu học đều thành Phật của mỗi thời tuỳ hỷ, nơi Diệu Pháp Liên Hoa Kinh đó là lời chân thành quyết định.

Thời này bậc tín tâm tu hành nhiều vô số, vô lượng, vô biên nhưng lại kém căn cơ nên rất hiếm thành Phật mà đa số thành Tiên Đạo gọi là Đắc quả. Đến sau này nữa càng sa sút chánh tín liền Đắc quả nơi THẦN –THÁNH ĐẠO.
 Thần đạo dùng bùa chú luyện thần thông trở thành cuồng tín phải chịu nơi sanh –tử –bệnh –lão –khổ.” –T.V.

• Thế nào gọi là Đắc Quả thành Tiên đạo?

Chuyên học, nghiên cứu kinh sách, đi đứng thanh bai, chỗ ở đẹp đẽ khang trang, ăn chay trường, tu tịnh không tu pháp động. Gặp hoàn cảnh thuận an vui, gặp nghịch cảnh tránh, không ưa. Chọn sạch bỏ dơ... Tu như vậy lúc lâm chung được về cõi Tiên hưởng phước báo Nhân Thiên. Đến chừng hết kiếp ở cõi Tiên bị đầu thai làm người hay các cảnh giới khác tu lại từ đầu.

Thiền sư nào đã từng xuất định đến cõi Tiên mới chứng kiến sự thật: Ăn, mặc, đồ dùng đều có sẵn. Không cần làm cũng có ăn. Muốn gì vừa ước ao liền có. Dùng thần thông hoá ra nên được như ý muốn. Đồ đạc, vật dụng rất đẹp. Một điều đặc biệt là ở cõi Tiên không có ánh nắng mặt trời. Ánh sáng từ vách núi chiếu ra, lúc nào cũng nắng dịu, không khí như ở trong phòng có máy điều hoà. Ở ngoài đường không khí cũng giống như vậy. 

Người Tiên tánh tình rộng rãi thương người nhưng còn tánh nóng, học trò không ai dám cãi lại Thầy, gặp người nào cũng nói năng hoà nhã. Hai câu thơ của Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc ghi:

“Rượu Thiên Tiên uống hãy còn thèm
Mà nơi nhân thế xuân đem mấy lần.”
 –T.V.

Ở cõi Tiên ngồi đánh cờ, uống rượu chưa tàn một buổi tiệc mà ở thế gian đã mất 3 đến 4 năm. Một năm ở cõi Tiên phải là một trăm năm ở thế gian!

Chư Thần ở cõi Trời hay dùng bùa chú, tính tình thương người nhưng rất nóng tính. Không khí ở cõi Trời cũng mát dịu như ở trong phòng điều hòa không khí. Cũng có vị như ở thế gian như Đình, Miếu, gốc cây cổ thụ, núi, sông. Hết kiếp vẫn sinh tử luân hồi. Do vậy mà sự tu hành đúng con đường Giác Ngộ thật khó khăn vô kể! Vì khó như vậy mà bậc tu hành phải có đường lối hay pháp môn do Bậc Thiện Tri thức đã Giác Ngộ chỉ đạo. Nếu không như vậy, thời tu cho có chứng tu, hay tu để cầu phước. Vì sao?

Vì đang mê tu bằng cách nào cũng vẫn trong thời mê, dù học thuộc tất cả các Kinh Phật hay nghiên cứu tất cả lời Phật cũng nằm trong bị biết, vẫn trong đường mê.

Tỷ như kẻ vào được kho thuốc, chẳng thiếu thứ chi, mừng quá nên thứ gì muốn uống đều tự do dùng, lại chỉ bày cho kẻ khác cùng uống với mình. Kết quả cả hai không những chẳng hết bệnh mà lại càng thêm bệnh.

Tỷ như kẻ đang lạc đường không tìm ra được lối thoát, thì dù có dìu dắt kẻ khác theo cùng với mình cũng bị lạc đường thôi, cuối cùng cũng chỉ là bạn không hơn kém. Do vậy, thời Hạ Lai Mạt Pháp này, bậc tu hành cần nương tựa theo pháp môn mà Đức Tịnh Vương Nhất Tôn hóa thân Đức Di Lạc đã lưu lại Bậc đã tỏ Ngộ mới mong Chân Giác. Cũng chính thời hạ kiếp này sự tu hành có vô số pháp môn, không pháp môn nào đưa con người đến chân giác mà Đức Di Lạc Tôn Phật phải Hạ Lai chỉnh trang lại lối tu hành có đường lối, pháp môn rõ ràng minh bạch cốt đưa chúng sinh thoát sinh, tử, lão, khổ.

Mỗi chân tử có mỗi Nghiệp Căn. Bậc chỉ đạo liền dùng Đại Phương Tiện chỉ bày. Còn phần bậc tín tâm, tu cần sửa đổi tánh tình để tạo cho được Thiện Căn cùng phải chịu tất cả các thử thách khi THUẬN lúc NGHỊCH của vạn pháp đặng hiểu biết. Nếu Tỏ Pháp liền được Tỏ Tâm. Tỏ tâm là Ngộ Pháp. Đó là điểm chính yếu của đường tu mà Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc đã vạch ra, sao cho không còn lạc lối tu nữa. Ngài thành lập pháp môn PHÁP TẠNG ý nghĩa chính là Long Hoa, y theo Pháp Tạng Như Lai còn gọi Là Phật Thừa Duy Nhất, dụng “Phật Pháp Bất Ly Thế Gian Giác” để diễn Đại Phương Tiện. 

Tất cả các bậc tín tâm từ Bồ Tát, Hộ Pháp Bồ Tát, A La Hán, Tôn Giả, Hộ Pháp, Chúng Sanh Hộ Pháp trước sau đều theo con đường Tri Kiến Giải Thoát. Những Bậc này Đức Tịnh Vương đều nung đúc trước tiên vào tu phải Kiên Dũng cho tỏ Như Lai Tạng còn gọi là Như Tạng, làm cho con đường tu hành không dừng trụ. Sau mới dạy cho tu căn bản GIỚI ĐỊNH TUỆ để được dung thông mà quyết định thành tựu Giác Ngộ, Đại Ngộ, Liễu Ngộ. Bậc cao thành tựu Vô Thượng Đẳng Chánh Giác./-

19. Hịch: Tin-Vâng-Kính

Phật Đạo duy nhất có một Tôn Chỉ Mục Đích như nhau. Phật Đạo thừa kế Nhất Tôn liên hệ mật thiết không sai chạy, nên gọi Nhất Tôn Tối Thượng. Dù cho vạn Phật ra đời trong vạn thời chỉ đạo chăng cũng vẫn có một Tôn Chỉ Mục Đích nguyên vẹn trong ba thời Phật Nhất Tôn (thời Thượng Kiếp, thời Hiền Kiếp và thời Hạ Kiếp) làm thế nào đưa tất cả đoạt đến Tri Kiến Giải Thoát, còn nói về thời Phật ra đời thì Ngài tuỳ theo thời Kiếp mà hoá độ.

–TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN












Đặc biệt thời Hạ Lai, Pháp Tạng lập pháp Thiền Toạ để Tỏ Pháp tức là Tỏ Tâm. Với Tình Duy Nhất Pháp Tạng, Ngài quyết định bậc tín tâm phải TIN VÂNG KÍNH theo sự chỉ bày Của Bồ Tát. Vì sao? Vì thời Mạt Pháp học, nghiên cứu quá nhiều thành lý chướng. Nên phải Tin Vâng Kính để Lý Sự Không Chướng, tu đến chánh giác. THÔNG LỆNH Ngài trao như sau:

(nhấp vào văn bản để mở lớn)


TĂNG-CHỦ NHẤT-TÔN
PHÁP-TẠNG PHẬT-GIÁO VIỆT-NAM                  Hội-Thượng, ngày 10 tháng 3 năm
Mậu Thân (1968)
Số.... ……/PTPGVN/HT/TC

THÔNG - LỆNH
-------------------

NAM MÔ TỊNH VƯƠNG PHẬT
NAM MÔ PHÁP TẠNG HỘI THƯỢNG PHẬT BỒ TÁT MA HA TÁT

ĐÔNG-ĐỘ DƯỢC-SƯ LƯU-LY QUANG NHƯ-LAI
BẢO TẠNG PHẬT
TỊNH VƯƠNG PHẬT

        CHỨNG-MINH BAN-HÀNH
                                            PHÁP-TẠNG HỘI-THƯỢNG
                                            Ngày 10 tháng 3 năm MẬU-THÂN.

CHỨNG-MINH:
        TĂNG-CHỦ TỊNH-VƯƠNG, Đại-Diện TAM-THẾ-PHẬT trọn quyền đảm- trách thi hành lành đạo theo TÔN CHỈNH BỔN NGUYỆN chung của TỊNH-VƯƠNG-PHẬT trên con đường PHÁP-TẠNG.

        TĂNG-CHỦ có trọng trách CHỨNG-MINH cho các CHÂN-TỬ, cùng chứng-minh giữa thời MẠT-PHÁP, đưa tất cả TRI-KIẾN GIẢI-THOÁT hiện tại. Vậy các Chân-tử chẳng tìm tòi đâu mà đặng giải thoát, chỉ: TIN-VÂNG-KÍNH.
  
TIN-VÂNG-KÍNH TĂNG-CHỦ liền ĐẮC.
  
Nếu mất: TIN, thời lạc-loài Sanh-tử.
        Bằng nất: TIN-VÂNG, bị chì-đắm trong LỤC-ĐẠO để diễn-hành.
        Nếu mất: TIN-VÂNG-KÍNH; Ngạ-Quỷ, Súc-Sanh, Địa-Ngục cận-kề.
        CHẲNG TIN: Không bao giờ Giải-Thoát.
        KHÔNG VÂNG: Chẳng lúc nào đến và đặng.
        CHẲNG KÍNH: Phải bị xa lìa Tánh-Trí, xa lìa BA đời Phật.
                                                                   
                                                                                      tiếp...…2./-

































TĂNG-CHỦ NHẤT-TÔN
PHÁP-TẠNG PHẬT-GIÁO VIỆT-NAM                  Hội-Thượng, ngày 10 tháng 3 năm
Mậu Thân (1968)
Số ....……/PTPGVN/HT/TC

THÔNG - LỆNH
-------------------
CHỨNG-MINH

… ...tiếp 2.-

        TIN-VÂNG-KÍNH TRỌN là: CÔNG-ĐỨC HẠNH-NGUYỆN, là CÚNG-DƯỜNG TAM-THẾ, là THỌ-KÝ THÀNH-PHẬT, lại chung cùng Bổn-Nguyện PHÁP-TẠNG, được ĐỒNG-NGUYỆN, ĐỒNG-HÀNH cùng ĐỒNG-SỰ chung với BỒ-TÁT-PHẬT.

       TĂNG-CHỦ TỊNH-VƯƠNG CHỨNG-MINH :

Các CHÂN-TỬ tề-tựu :
       Từ NHÂN-THIÊN, THIÊN-THẦN TAM-GIỚI LỤC-ĐẠO như : NHÂN - ATULA - SÚC-SANH - NGẠ-QUYû đến hầu hết ĐỊA-NGỤC tuân hành nghe lãnh tề-tựu;
       Chư BỒ-TÁT-MA-HA-TÁT hộ-trì giúp-đỡ hữu-hiệu.
       Chư LONG-THẦN-HỘ-PHÁP, HỘ-PHÁP BỒ-TÁT MA-HA-TÁT hộ-trì giúp-đỡ hữu-hiệu.
       Chư ĐẲNG-ĐẲNG-THẦN - THIÊN-THẦN - NHÂN-THẦN cùng ATULA-THẦN - SƠN-THẦN - THUỶ-THẦN - HOẢ-THẦN - ĐỊA-THẦN và TỪ-BỘ-THẦN đều hộ-trì giúp-đỡ hữu-hiệu.
  
       Đồng mời: Mười hai DƯỢC-XOA QUỶ-VƯƠNG ĐẠI-TUỚNG của ĐÔNG-ĐỘ DƯỢC-SƯ hộ-trì giúp-đỡ hiện-hữu.
  
       Các vị hãy vì BỔN-NGUYỆN chung của TAM-THẾ-PHẬT. Hôm nay TĂNG-CHỦ thừa- hành thời Mạt-Pháp CHỨNG-MINH các CHÂN-TỬ, đồng thi-hành nhiệm-vụ chung cốt đưa tất cả TRI-KIẾN và GIẢI-THOÁT.
       Vậy tuỳ theo mỗi CHÂN-TỬ mà hộ-trì giúp-đỡ nơi CHÁNH-BÁO và THỌ-BÁO phân-minh hiện-hành đúng-đắn hữu-hiệu.
Ngày 10 tháng 03 năm MẬU-THÂN
Lúc 12 giờ 01 phút
TĂNG-CHỦ TỊNH-VƯƠNG
CHỨNG-MINH  









































Một hôm Đức Tịnh Vương khai thị tại số 42 đường Hồng Bàng Nha Trang, trên căn gác gỗ của Ngài, tôi nghe như vầy: "Khi tôi trực giác nhớ tiền kiếp quá khứ là Di Lạc, chẳng lẽ KINH tôi viết ra, lại ghi là Di Lạc sao coi được? Tôi phải dùng một cái tên khác đó là Tịnh Vương Nhất Tôn."

Bậc tu hành muốn gặp Đức Di Lạc, phải biết pháp môn của Ngài là gì? Pháp môn của Đức Di Lạc là tu trong SẮC – THINH – HƯƠNG – VỊ – XÚC – PHÁP ở trong đời mà không nhiễm. Tu hành như vậy mới nhận định được chân lý của pháp môn Đức Di Lạc. 

"Còn Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật là Giáo Chủ khai đạo ở cõi Ta Bà Thế Giới này chẳng lẽ Hạ Lai này tôi xưng Giáo Chủ nữa để dành ngôi vị của Ngài sao được. Nên tôi chỉ dùng chức vụ tối cao của Đạo gọi là TĂNG CHỦ để tỏ lòng Tôn Kính Đức Giáo Chủ Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Còn nói về hai chữ LONG HOA, khi ra đời hành đạo tôi cũng không treo bảng dùng chữ Long Hoa coi sao được? Do đó tôi phải xin lập HỘI PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO VIỆT NAM nhưng cũng có ý nhắc nhở chúng sinh ở thế giới Ta Bà này biết mà nghĩ lại là chính Di Lạc đã ra đời, lập lại Thượng Kiếp nên dưới hàng chữ Pháp Tạng Phật Giáo Việt Nam, tôi có viết Trung Ương Hội Thượng, nhưng cũng tiếc thay không một tu sĩ nào kể cả Tăng, Ni, Phật tử khi nhìn thấy tấm bảng lớn nền vàng chữ xanh da trời treo mà để ý hai chữ Hội Thượng." –T.V.

Tăng Chủ Tịnh Vương chính Đức Di Lạc Tôn Phật đứng ra nhận lãnh trọng trách khai đạo thời Mạt Kiếp do Đức Tịnh Vương Phật chứng minh.

Đức Tịnh Vương Phật chính là Như Lai mà Đông Phương thường quen gọi, cũng chính là Thượng Đế mà Tây Phương thường gọi, Đức Tịnh Vương Phật cũng chính là Đấng A La mà khối Ả Rập thường gọi. Ngài là "Tổng Thể Quyền Lực Vũ Trụ." Do mỗi nơi tự đặt tên khác nhau mà thôi.

Tất cả Chư Phật mười phương trước khi thành Phật đều phải gặp Đức Tịnh Vương Phật để được Ngài ban hành chứng minh mới đặng thành Phật để nhập thể vào Ngài trở thành một. Tuy một mà hai, tuy hai mà một là ý nghĩa như thế.

Hàng Tổ đắc pháp Chân Không, Giác Ngộ, hay Đại Ngộ hoặc Liễu Ngộ vẫn chưa có thể gặp được Đức Tịnh Vương Phật. Bậc giác ngộ rốt ráo hạnh nguyện đến khi đoạt Diệu Quả Bồ Đề thành Phật mới gặp được Đức Tịnh Vương Phật ban hành chứng minh.

Chư Phật và Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật trước khi nhập Niết Bàn đều được gặp Đức Tịnh Vương Phật. Đức Di Lạc Tôn Phật trước khi nhập Niết Bàn cũng đã được gặp Đức Tịnh Vương Phật đến ban hành chứng minh.

Trước giờ nhập Bát Đại Niết Bàn, Chư Bồ Tát, Long Thần Hộ Pháp mới hỏi sao Ngài còn gì nữa mà chưa ra đi. Đức Di Lạc trả lời: –"Tôi còn chờ Đức Tịnh Vương Phật đến chứng minh." Lúc đó Đức Di Lạc xả Chánh Định để dạy việc này. Sau đó Đức Tịnh Vương Phật đến, Đức Di Lạc liền nhập thể Bát Đại Niết Bàn.

Bồ Tát, Đại Bồ Tát khi đắc Vô Thượng Đẳng Chánh Giác đều được Đức Tịnh Vương Phật đến gặp để chứng minh, nhưng khi viên tịch chưa thể được Đức Tịnh Vương Phật đến gặp. Chỉ khi nào lai trần, hạnh nguyện thành quả Phật thực sự, lúc đó Đức Tịnh Vương Phật mới đến ban hành chứng minh.

Còn hàng Tổ A La Hán giác đến cao nhất là Liễu Ngộ chưa có thể gặp được Đức Tịnh Vương Phật. Thời hạ lai nhiều vị xưng Phật không nằm trong Hộ Tịch Phật độ theo Tôn Chỉ, dù có Chánh Giác cũng phải vòng quanh trong lục đạo chờ một vị Phật kế Đức Di Lạc kiểm tra, chứng minh mới được nhập thể. Một hôm Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc dạy rằng: Tỷ như trong một nước chỉ có một ông vua, khi vua cha băng hà truyền ngôi cho con và cứ thế tiếp nối. Thời này cũng vậy, bậc lãnh đạo đi, trao lãnh đạo mới sau này lên thay. Đường đời cũng không khác đường Đạo chân truyền là vậy.

Do đó nhiều vị không biết đường đi của Chư Phật quá khứ, phải tuần tự tu qua lớp lớp không thể thiếu sót mới được nhập thể. Tự xưng Bồ Tát, Phật đều không có Mật Ấn để điều động vũ trụ.

Cũng như trong một nước có nhiều vị đậu bằng tiến sĩ nhưng chỉ có một vị được vua hay lãnh đạo bổ nhiệm làm thủ tướng. Khi đã nhận lãnh Thủ Tướng cả nước đều nghe, chữ ký của ông Thủ Tướng tất cả dân trong nước phải nghe và tuân theo. Ai chống lại liền có lính đến hỏi tội. Còn những vị tiến sĩ kia hành sự cá nhân để sống, được nhiều hưởng nhiều, đươc ít hưởng ít. Chữ ký cũng không bao giờ có quyền như Thủ Tướng. Sau vị này mãn nhiệm vị khác lên thay cũng có quyền y như vị trước. Bậc Chánh Giác nhập Bát Đại Niết Bàn, Bồ Tát thừa kế duy nhất được trao Mật Ấn để điều hành cứu độ chúng sinh.

Do đó mà Đức Di Lạc bảo: "Hạ lai này Tôi lập lại kỷ cương đường lối tu hành". Nếu chúng sinh theo con đường Ngài đã lập ra, ắt là dân của nước Phật, bằng không dù nghiên cứu, học cao cũng quanh quẩn lai sinh ở thế gian hay vào cảnh giới khác mà thôi!

Nếu tin Phật tu Phật qua Kinh điển, qua hình thờ bằng gỗ, bằng xi măng, bằng giấy in hình Phật, khi lâm chung nếu thiện căn được sinh lại vùng có chùa, gặp lại Kinh Phật, tượng cốt rồi vào tu, cứ thế mà luân hồi.

Gặp Bồ Tát tin tu sẽ đi theo y tôn, y chỉ do đó mà Ngài đã chỉ đạo rõ ràng. Mất tin Tăng Chủ hoặc Tổ thừa hành kế tiếp, thời lạc loài sanh tử. Vì sao? –Vì tu chưa biết lúc nào là đúng sai mà không tin bậc đã tỏ biết con đường sanh tử ắt phải lạc nên phải tin. Bằng không, tu thế nào cũng được, hoặc y kinh vẫn không thoát sinh được.

• Bằng mất Tin–Vâng: bị chìm đắm trong Lục Đạo để diễn hành.

Đa phần bậc tu Tin theo Đạo Phật nhiều vô số kể nhưng TIN bậc Thiện Tri Thức đã giác ngộ thật khó khăn, phải chờ ngày nào nhận được chân lý mới TIN. Bậc tu tin Thiện Tri Thức đã khó, còn nghe lời Tin Vâng thi hành để ngộ càng khó hơn. Đã không Vâng, không thực hiện được theo sự chỉ bày của Bậc đã chánh giác sẽ không tháo gỡ được lục đạo gọi là chìm đắm trong Thiên, Nhân, A-Tu-La, Ngạ-Quỷ, Súc-Sanh, Địa-Ngục.

     – Đứng về Thiên Giới: Bậc tu hành định tưởng thường mong muốn gọi là dục tưởng. 

     – Đứng về Nhân Giới: Thường Nhân-Nghĩa-Lễ-Trí-Tín. Khác ý liền chấp, lại không ưa. Thường trụ.

     – Đứng về A Tu La Giới: Thường nóng tính, dễ phát sinh nên thường hoại lại thường chấp.

     – Đứng về Súc Sanh Giới: Thường phát sinh, kết nạp để hoá sinh.

     – Đứng về Ngạ Quỷ: Tham lam, tranh giành

     – Đứng về Địa Ngục: Chủ Thủ, chỉ biết bạo lực, không nghe ai, độc tôn dễ bị diệt vong.

• Chẳng Kính: Phải bị xa lìa Tánh Trí xa lìa ba đời Phật. Kẻ không kính bậc Thiện Tri Thức không tin Phật, Pháp, Tăng không có thiện căn, tánh độc, hung bạo phải bị xa lìa ba đời Phật. Hiện tại không tin kính Phật thì quá khứ, vị lai cũng vậy. Lúc chết họ sống trong địa ngục, không nghe được lời nói đạo đức.

• Tin–Vâng–Kính trọn là: thuận cũng tin mà nghịch cũng tin. Không chấp, không chướng khi bậc Thiện Tri Thức dụng nghịch hành, cốt cho bậc tín tâm tỏ thông Như Lai Tạng. Đó là công đức Như Lai, cúng dường Như Lai nếu trọn tin, có nghĩa tận độ hết chúng sanh tánh của mình sẽ được Như Lai thọ ký thành Phật.

Đương thời Hạ Lai Mạt Pháp này, Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc dạy tín chúng cần phải cùng đồng nguyện, cũng đồng hành, cùng đồng sự với chư vị Bồ Tát –Phật đã đi trước để đồng chung hưởng chân lý mà Tri Kiến Giải Thoát. Nếu không cùng chung nguyện, không cùng đồng hành, không đồng sự, tu theo ý muốn sẽ không bao giờ đạt được kết quả vì lạc lối mà Đức Ngài mới Hạ Lai chỉnh trang lại.

Đoạn Kinh sau nay Đức Di Lạc đã ghi:

“... Sơn thần – Thủy thần – Hỏa thần – Phong thần… đều hộ trì giúp đỡ hữu hiệu” 

     – Sơn thần: Thần sống ở núi, chân núi, gốc cây.

     – Thủy thần: Có cảnh giới ở nơi nước sống nơi nước như ao, hồ, sông, biển.

     – Hỏa thần: Có cảnh giới sống trong lửa, tắm lửa, ăn lửa. 

     – Phong thần: Có cảnh giới ở nơi gió, sống trong gió.

Còn vô số cảnh giới nữa dưới mắt Thiền Sư thấy thật rõ không sao kể hết được.

Một câu chuyện xảy ra ở vào thế kỷ 20, khoa học tiến bộ văn minh, phi thuyền lên mặt trăng, nghe lạ nhưng có thật: Một hôm, vào khoảng năm 1978, ở trại cải tạo A.30 Tuy Hòa, tôi có một người quen cải tạo chung tên là Hoa. Khi còn ở trại cải tạo Đá Bàn, anh ở tổ thợ rèn. Khi chuyển trại đến A.30 năm 1978 tất cả đều bị đói. Mỗi cải tạo viên được phát bốn (4) kg gạo mỗi tháng và một ít khoai mì. Ai ai cũng bị đói. Vợ anh Hoa đi thăm chồng có mang theo 10 kg gạo. Thấy tôi đói nhiều ngày, anh đem cho tôi một lon sữa bò gạo. Tôi nói với anh Hoa rằng “Một miếng khi đói bằng một gói khi no”. Khi nấu lon gạo anh Hoa cho tôi, trước khi ăn tôi chú nguyện. Lúc đó tôi và anh Hoa đang ở trong trại cải tạo, còn vợ anh ta ở Tuy Hoà xa trại hơn 30 km. Đến mùa lúa kế tiếp sau đó, tất cả toàn nước Việt Nam bị hạn hán, lại sâu rầy lan khắp cánh đồng, cả nước lẫn vùng Tuy Hòa bị hư hại nặng, không có thu hoạch được lúa. Vợ anh Hoa vào thăm chồng báo cho anh ta biết, chỉ có đám ruộng của chị là trĩu nặng hạt, lại sai trái khác thường, trong khi ở chung quanh đám lúa của chị đều bị hư hết. Chỉ có ruộng chị Hoa là được mùa tốt. Cán bộ đến hỏi cách thức trồng, khen chị và gọi bà con nông dân đến xem đám ruộng trúng mùa của chị để học hỏi rút kinh nghiệm. Chị Hoa trả lời cũng trồng như những mùa lúa thường, cũng không chăm sóc đặc biệt nhưng không biết tại sao lại trúng mùa lúa như vậy!

Thế mới biết bậc tu tin vâng kính Chư Phật, thật tối cần để đạt kết quả hữu hiệu. Còn chúng sinh tin bậc trên, kính bậc Thánh, Thần, Trời, Phật đều có lợi thật. Còn nữa, thương yêu người dưới trướng của mình cũng được Chư vị tu quá khứ quý, tán thán, khâm phục.

Nói và hành phải đi song hành chân thật, chớ không phải giả dối chỉ nói lời hoa mỹ mà hành động lại diệt thần Thánh, Trời, Phật chỉ vào địa ngục vô gián quá ư khổ hãi!

Có lần Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc Ngài khai thị: "Có địa ngục hung bạo đến mức giam một chỗ khoảng 5000 người ác là chuyện thường. Họ luôn kêu la, rên siết không sao kể hết được."

"Đồng mời: Mười hai D
ược Xoa Quỷ Vương Đại Tướng của Đức Đông Độ Dược Sư hộ trì giúp đỡ hữu hiệu." 

Mười hai vị này đã ở quanh Đức Tịnh Vương hóa thân Đức Di Lạc để giúp đỡ kẻ Ác căn hồi tâm quay về Thiện.

Đức Đông Độ Dược Sư Lưu Ly Quang Như Lai là tổ của Thiền Tôn đã cho 12 Đại Tướng hộ trì Chánh Pháp trong thời Đức Di Lạc hiện thể khai đạo và đang còn hiện tiền giúp đỡ các chư vị Bồ Tát xây dựng chánh pháp rất tích cực, hữu hiệu. Kẻ lấy cái tưởng còn vọng bình phẩm đều không đúng. Trực giác mới thật nghe thấy biết đúng.

“Vậy tùy theo mỗi chân tử mà hộ trì giúp đỡ Chánh Báo và Thọ Báo phân minh hiện hành đúng đắn hữu hiệu.”
 

Đến đây Ngài đã minh định sẵn, sự tu hành tùy theo mức độ Tin Vâng Kính của mỗi Chân tử đối với con đường đạo mà Ngài đã dụng Vô Lượng Công Năng, Công Đức vạch ra, sẽ được giúp đỡ. Nếu Chân tử cầu Tri Kiến Phật đến Phật Tri Kiến gọi là con đường giác ngộ đến giác ngộ rốt ráo sẽ được Chánh Báo. Còn Chân tử tu cầu phước báo cũng được thọ báo nhân thiên. Đối với chúng sinh tu hành ngoài con đường Chư Phật, tự ý theo cái muốn cũng được thọ báo phân minh thật bình đẳng lớp lớp./-