-“PHẬT ra đời có thẩm quyền độc lập chứng minh vũ trụ . BỒ TÁT có quyền chứng minh chúng sanh cấp bậc tu chứng.″
Hiển thị các bài đăng có nhãn BIỆT TÔN VÔ THƯỢNG ĐẲNG. TẬP I. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn BIỆT TÔN VÔ THƯỢNG ĐẲNG. TẬP I. Hiển thị tất cả bài đăng

17/4/11

BIỆT TÔN VÔ THƯỢNG ĐẲNG. TẬP I


Tập I (từ bài 1 đến 10)

Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng: Bậc thấu đạt Biệt Tôn Vô Thượng Đẳng là những vị Bồ Tát Ma Ha Tát đã từng bao quản cúng dường Như Lai, phụng hành Như Tạng, bảo pháp của Chư Phật. Nhất sanh bổ xứ thành Phật, tất cả vạn pháp trơn liền, ra vào viên giác.

– Thiền Sư Bồ Tát Di Như viết lời dẫn nhập.

16/4/11

1. NHƯ NHIÊN TRỰC GIÁC


Nhân ngày mùng Tám tháng Tư, năm Nhâm Tuất 1982, lúc 20 giờ 30, tại Trung Ương Hội Thượng, cử hành Đại Lễ Đản Sanh của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Tứ chúng tề tựu, theo thường lệ, vẫn một lòng tín ngưỡng thọ trì Bảo Pháp, nhất tâm tu cầu Tri Kiến Giải Thoát.

Về phần ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ DI LẠC TÔN PHẬT vẫn chỉ dạy hóa giải từng lớp lang thân tâm nơi Tín Chúng tiến bộ. ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ không hề phát hành, chỉ Giáo Ngôn truyền thuyết, không hội hè hội hộp như các mọi năm trước. Ngài vẫn một mặt Tâm truyền đơn giản, như nhiên trực giác, khó nghĩ bàn.

Khi bấy giờ nơi Chánh Điện, Tứ Chúng ngồi yên đàm luận, bàn bạc về môi sinh hiện tại khó tu. Bỗng có tiếng chuông reo, báo hiệu ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ giá lâm, chứng minh Đại Lễ, Tứ Chúng đồng yên lặng ứng lễ.

Ngài từ Tịnh Thất bước xuống đi tháp tùng có hàng Thị Giả, Tôn Giả và Hộ Pháp đồng ra Chánh Điện. Khi bấy giờ Ngài lại đến ngồi tĩnh tọa trên chiếc ghế vãi, thường ngày để sẵn, lúc Ngài nghỉ ngơi hoặc xem kinh điển, vì khác hơn thường lệ làm cho Tứ Chúng bỡ ngỡ, nhưng vẫn xếp thứ tự trang nghiêm đồng lễ bái. Ngài đưa tay ra lệnh, tứ chúng ngồi đâu đó xong xuôi Ngài nói:

- Tôi khá khen các ông, từ nơi rộng rãi tu hành cho đến thời tu eo hẹp, mà các ông vẫn một lòng một mức kiên trì, kiên nhẫn công phu tinh tấn không nhàm chán lễ nghi, mức tin vâng đối với Giáo Môn không đâu bằng, chỉ vì các ông đang sanh hạ trong thời Lạc Pháp, con người đang cải cách mà các ông không điên loạn theo Đồ Chúng. Còn đối với Tôi cùng Giáo Hội vẫn gìn giữ Tôn Chỉ hành lễ Cổ Truyền Ngày Mùng Tám Tháng Tư của các Thế Kỷ nghìn xưa lưu lại.

Thật ra con đường Tu Phật, nó có rất nhiều cải cách, sự cải cách Bản Thân hơn là cải cách tục truyền, lễ bái chiêm ngưỡng, vì hình thức cải cách nó tự sanh ra nhiều môi thuẫn, tự sanh nhiều lý sự khó khăn để các Bậc Tu chạy theo Đồ Chúng hư vị, do đó mà làm cho Tâm Ý bị phân đối, tinh thần lạc lỏng giữa ngày Đản Sanh của PHẬT còn vướng bị cải cách thời làm sao Kinh Pháp không sai lạc, thật vô lối. Đứng trước phương diện cải cách bản thân rất cần thiết phải cải cách. Từ nơi Tâm Chí Phàm Phu eo hẹp, cải cách đến Tâm Chí bao dung rộng rãi, cốt giúp cho quần sanh đặng tỏ rõ, thời nơi bản thân chính mình tu cầu Tri Kiến Giải Thoát.

Đại để như ĐỨC BỔN SƯ, Ngài khi đang còn là vị Thái Tử, Ngài sống phẵng lặng, thân tâm nơi Ngài chưa vừa lòng, mức-sống lối-sống trong cung vàng điện ngọc, Ngài tự ra đi để cải cách bản thân, cốt đáp ứng nhu cầu tự do thoải mái. Do đó Ngài chấp nhận sự đơn giản hơn là lối sống hình thức rườm rà, từ nơi cải cách bản thân sự - sống lối - sống thoải mái đối với Ngài thực tế.

Ngày nay các ông ngồi trước tôi, chiêm ngưỡng để tu cầu nhận lấy lẽ sống an nhiên tinh thần hơn vật chất, tôi cùng các ông đồng sống, chẳng cầu lấy rượu chè hay tiệc tùng chén bát, mỹ vị cao lương, các ông nhận định đặng như thế thì tự vui mừng, chính đời nơi các ông và tôi đang cải cách bản thân mà đang sống đặng như thế.

Đối với ĐỨC THẾ TÔN, Ngài phải xa lìa đánh đổi ngọc ngà châu báu để cải cách bản thân, Ngài chấp nhận cảnh khổ sự khổ tìm chân đế về giúp cho nhân loại. Hiện nay đó chính là tài liệu cải cách bản thân hơn là cải cách hình thức. Khi Đức THẾ TÔN mới ra đi chưa phải là Bậc Chánh Giác. Lúc các ông đang ngồi trước tôi, các ông chưa hẵn đã giải trọn mê lầm, tuy nhiên hai lối nhưng vẫn có một đường, vì sao? Vì chính Ngài buổi ban đầu bị tu nơi KHỔ HẠNH với nhóm người tự đem cái Khổ Nhục xác vào mình.

Khi bấy giờ, Ngài vẫn nhờ nơi Bảo Pháp NHƯ NHIÊN hiểu biết, khỏi ép nơi Khổ Hạnh Bị Biết... Ngài bèn ra đi đến cội Bồ Đề Tọa Thiền Chánh Giác. Ngài tự nói: TA chớ giam mình nơi Khổ cầu đạo Bồ Đề. TA chớ hủy hoại thân mạng cầu lấy diệu quả khó Tu, khó chứng.

Từ đó cho đến ngày nay Ngài lưu lại những điều Ngài tu trì, tu tập, tu hành trải qua từng thứ lớp trở thành Tam Tạng Kinh. Ngài cứu giúp giải tỏa buông lung đau buồn nơi cảnh khổ, Ngài hóa giải chẳng biết bao nhiêu sự mê lầm ngăn chấp. Từ nơi Bị Giác, Bị Tu, an nhiên tự tại đến Trực Giác. Từ thứ bậc Tu Thân Đạo Hạnh đến hóa giải trở thành Hạnh Nguyện độ sanh đứng vào hàng Bồ Tát Nguyện. Nay Ta nói ra để nhắc các ông nên nhớ, chớ vì khổ nãi lòng, chớ vì mức sống eo hẹp trễ nãi Công phu, nếu các ông đem quan niệm ấy vào lòng, thì Tâm Chí của các ông tự mang cái Khổ. Bằng các ông hóa giải bằng bộ óc giải thoát thì các ông noi gương Đức Chí Tôn cốt đánh đánh đổi nơi eo hẹp làm cho tâm chí rộng rãi bao la, từ chỗ đương thời eo hẹp khó khăn tu đoạt quả vị phát triển. Những điều ấy nên nhớ lấy.

Ngày nay các ông đặng gặp tôi, tỏ lòng ái kính do nơi đâu, phải chăng tôi thường đem lời tu chuyên chính, con đường chuyên chính ấy là tôi vẫn thường cải cách bản thân nên có công năng quyết định đưa các ông Chân Giác, giúp các ông thoát khỏi vòng Tử Sanh, vì tôi rất tỏ tường thế nào là Chân Pháp, hướng dẫn đến Giác Chân. Tôi cũng đã sống nơi đắng cay cam khổ, cố gắng kiến tạo công năng nương nhờ như nhiên Trực Giác mới khỏi sự lý lạc lầm, thành thử lời chỉ dạy toàn lời hoàn mỹ, lời ấy nó không Y Kinh mà cũng chẵng Ly Kinh, viên thông hướng dẫn, như thế gọi là Chân Truyền Chân Giác.

Lời Chân Tryền Chân Giác không thể chỉ trên văn tự, nó nương nhờ Như Nhiên Trực Giác thành đạt, vì lời nói ra không bị hữu hóa hay Bị Giác, Bị Tu, thành hình Bị Biết để đọc tụng nói ra. Chính nó từ nơi xuất phát Tự Tánh Chân Truyền, do đó từ vô thủy đến hiện nay có hằng hà sa số Bậc Chánh Giác thảy đều lời nói như nhau không sai chạy. Một trong hai thái cực khác nhau, chính thân tâm Bậc Tu Hành nên thịnh trọng. Khi các bậc tu hành đang còn Bị Biết, Trí Tuệ thân tâm chưa Tự Tại, đường Tu Trì thường bị chổ đúng sai, sanh lòng quái ngại, đối với từ Lý đến Sự chưa viên thông, cho nên tôi thường nói:Khi các ông nói, nhưng Tâm nơi các ông chưa biết. Lúc các ông thực biết đặng thì Tâm Ý miệng các ông sẽ nói ra.

Trực Giác Chân Truyền vốn sẵn nơi như nhiên lại có sẵn mọi hoàn cảnh thuận nghịch của hàng ngày nó vẫn ở nơi cái sống từng lớp người, kể cả từ hành động cử chỉ, ngôn ngữ thảy đều có nó, sự điều động, quan niệm tác động gọi là PHÁP GIỚI đối với Chúng Sanh. Còn Bậc chẳng dính mắc với nó, thảy đều nương theo mà Trực Giác.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài nói đến đây, Ngài nhẹ giọng dạy tiếp: Tôi và các ông, chung trong thời Hiện Kiếp, có nghĩa là kiếp sống với nhau. Nhưng đối với tôi đã từng biết sử dụng đường đi lối về nơi Vạn Pháp, thật biết tỏ rõ sự lầm lẫn chấp nê của các ông trở thành Thọ Nghiệp Pháp Giới. Tuy nhiên các ông cùng một lứa tu hành, cùng một môn tu trì tri kiến, nhưng thật ra giữa các ông với các ông, trình độ tư tưởng xa cách nhau quá ư nhiều bậc, chỉ vì quan niệm không đồng nên cớ sự nó như thế, pháp giới như vậy.

Pháp Giới tác hại vô cùng, đối với Bậc tu hành chưa biết sử dụng. Nếu nhìn thấy nó mang tâm chí than van phiền trách từng cảnh khổ nơi sướng, để mong cầu, chẳng ích lợi chi lại càng mang Khổ Sướng nơi thân tâm chán nản khó tu. Khi các ông biết sử dụng thời hoàn cảnh nó đến là phải đến, các ông tâm không mắc miếu, nương nhờ hoàn cảnh cổi giải, hỷ xã quan niệm liền tỏ rõ hoàn cảnh mà Trực Giác. Chẳng khác mấy, Bậc tu Nội Công mong thử sức mình, gặp phải món đồ nặng, liền nâng tay đở lấy nhẹ nhàng, lúc bấy giờ mới đo năng lực nội công nơi mình kết quả hay chưa kết quả. Đối với Chư Bồ Tát nương nhờ Pháp Giới sở đắc Pháp Thân, còn Phàm Phu thọ chấp gánh chịu giới hạn trở thành lối - sống sự- sống tư - tưởng hành - động thảy đều là PHÁP GIỚI. Các ông cũng nên biết, nơi thường diễn của Pháp Giới nó chẳng có giới chi cả, vì sao? Vì Thể Tánh nó như thế. Trong lúc lầm mê mới có được gọi là Sanh Diệt do nó diễn từng hồi, nhịp nhàng nó diễn. Lúc sở đắc thể tánh nhịp nhàng, chẵng mắc miếu, thị chứng Bất Sanh, Bất Diệt.

Các ông tự than phiền sinh sống, thế tình điên đảo, đương nhiên các ông mang vào Pháp Giới khát khao có phải chăng các ông tự đặt mà thành làm cho ngăn cách, lại cầu Tri Kiến Giải Thoát. Chẳng khác nào tự mang lấy gánh nặng, chưa chịu vớt đi, cho nó nhẹ nhàng, chỉ đa mang rồi mong ước nhẹ nhàng không bao giờ có đặng.

Ta nói đây các ông chưa hiểu nổi vì công năng còn kém. Các ông cứ tu, chớ trễ nải Công Phu rồi một ngày nào đầy đủ Công Năng như nhiên, Tâm các ông không cấu tạo thời dù cho hoàn cảnh chi chăng nữa vẫn là món ăn Tri Kiến Giải Thoát thân tặng các ông.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ dạy xong, Tứ Chúng đảnh lễ.

Hoá thân Đức TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN
Chính là Đức DI LẠC TÔN PHẬT
Hạ Lai Trần Thế 1918 -1993

Ngày mùng tám tháng 5 năm 1983
Tôn Giả Pháp Khả xin ghi chép phụng hành.

2. PHẨM HẠNH DIỄN TIẾN


Tôi còn nhớ, lúc bấy giờ vào thượng tuần tháng 2 năm 1979, ĐỨC TĂNG CHỦ TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN chính là ĐỨC DI LẠC TÔN PHẬT giá lâm Sàigòn lần thứ Tư, tại nhà ông bà hiệu may y phục Hoa Hậu, đường Cao Thắng. Theo thường lệ mỗi chiều thứ bảy Ngài khai thị cho Tứ Chúng đến dự nghe, hay thọ lãnh tu trì.

Có một hôm đầy đủ Tứ Chúng, từ hàng Thượng Trí đến Hạ Trí, viên chức hồi hưu và các chú nhỏ trẻ trung lao động, họ đồng nhau tề tựu, tự xếp chỗ ngồi hình thành bán nguyệt. ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài ngồi trên nệm nhỏ, khăn trải vải vàng, trước mặt Ngài có bình tách trà để thấm giọng. Ngài an tọa trang nghiêm đỉnh đạt, nhìn quanh Tứ Chúng một vòng, in tuồng nhận xét dưới sự tín tâm, Ngài mới tùy theo nhu cầu mà chỉ dạy.

Tôi thấy các ông, Thiện Nam Tử, Thiện Nữ Nhơn có tâm chí cầu đạo Bồ Đề. Có chân thành thiết tha cầu đạo tỏ ngộ. Nhưng tiếc thay! Có tín tâm tu cầu, nhưng nơi tu đó nó trở thành Tham Cầu lầm lạc, ưa thích nhiều môn, nhiều pháp tu cầu cao siêu nơi ảo vọng, do đó nên chưa biết giá trị bảo pháp như thế nào, để thấu rõ giá trị của tu cầu lãnh lấy. Do lẽ ấy, nên ngày hôm nay Tôi dạy các ông nhận chân giá trị bảo pháp.

Ngài nói: Giá trị nơi Bảo Pháp chưa phải tu nhiều mới đủ. Chưa hẵn tu ít mà đặng, chỉ tu trong một Phẩm Hạnh làm tròn Phẩm Hạnh vẫn đủ môn. Vì thế nên Phật mới để lại PHÁP MÔN chư Bồ Tát nhận lãnh chỉ đạo.

Khi bấy giờ Tứ Chúng lặng yên, nhìn về ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ. Ngài đỉnh đạt nghiêm túc nói:Các ông vẫn chuyên trì một Môn chu đáo liền thành tựu, vì sao? Vì mỗi một Môn diễn tiến toàn diện, cho nên Đức THẾ TÔN Ngài nói:Mỗi một Pháp nó đầy đủ Bá Thiên vạn pháp, lãnh lấy một pháp thành Phật.

Bậc tu hành, kể từ sơ khởi đến tận cùng, nên tu trì gìn giữ Công Đức Phẩm. Công Đức Phẩm nó có giá trị vô kể, không thể nào diễn đạt sự diễn tiến nơi nó đặng, bậc chuyên trì tinh tấn chuyên trì mới nhìn nhận, từ nơi một quan niệm nhỏ nơi Phẩm Công Đức đến kết quả quá ư rộng rãi bao la vô tận Chánh Giác.

THẾ NÀO LÀ: TỪ MỘT QUAN NIỆM?

Đa phần các bậc tu hành, từ bậc Xuất Gia tu lập Công Quả, đến bậc tại gia phát nguyện tu Công Đức Phẩm thảy điều quan niệm: Tu hành phải có Công Đức, nào là hương đăng, hoa quả Lễ bái, cúng dường Tam Bảo, cúng dường chư Tăng. Xây chùa dựng tháp mỗi mỗi đều bổ sung nơi Công Đức, thông thường, thường lệ các ông đã biết, rất nhiều quan điểm khác nhau, không ngoài cầu vái nơi sở nguyện của mỗi người.

Từ một quan niệm hữu lậu trên đến tu Phẩm Hạnh Vô lậu Công Đức Phẩm liền diễn tiến theo lên từng mức độ trình độ thọ trì Bảo Pháp, chừng đó mới nhận định cao quý của Bảo Phẩm.

Quan niệm hữu lậu là Y Áo cúng dường, Phẩm vật cúng dường, hương đăng hoa quả, xây chùa nuôi Tăng. Còn Vô Lậu tín tâm phụng hành Công Đức, đa phần bậc sơ khởi tu hành còn quan niệm về nơi Phước Báo Nhân Thiên hay tu hành thoát sanh về TỊNH ĐỘ Tây Phương Cực Lạc. Căn cứ nơi Công Đức Phẩm thì tùy theo sở nguyện mà thành.

Bằng có Bậc tu Công Đức Phẩm, kiến tạo công năng cơ bản tu cầu Tri Kiến Giải Thoát. Nương nhờ kiến tạo công năng, nên bảo trì công quả, phục vụ Công Đức không kể lể. Gặp kẻ ngoại giáo dèm pha, Bậc này gìn giữ thân tâm không hờn giận, chủ yếu chuyên trì công quả. Từ nội tâm đến ngoại cảnh vững vàng không cầu báo, liền Phẩm Hạnh Diễn Tiến, tu trong thời gian. Từ nơi Bố Thí không kể lể đến Trì Giới Tinh Tấn, Nhẫn Nhục thảy đều nhất tâm cố giúp. Càng giúp mọi người chu đáo bao nhiêu, vẹn toàn không cầu tri ân trả nghĩa, gọi là Trí Tuệ Thiền Định. Nếu Bậc này có Tu Thiền lại càng quý, bằng chưa Tu Thiền vẫn có Trí Tuệ sáng soi.

Lúc sáng soi Sửa Tánh, làm cho từng lớp người phù hợp trở thành Đạo Đức, đạo đức này sung vào Hạnh toàn diện gọi là Phẩm Hạnh. Từ nơi Phẩm Hạnh thi hành Lục Ba La, được chí thành Ba La Mật Đa, nên gọi là tu hành Bát Nhã Ba La Mật Đa vậy.

Từ đó mới bước vào con đường tu Bồ Tát Hạnh mà đặng sáng soi tất cả Tánh của Nhân Sanh Tánh, tạo thành Pháp Giới nên gọi là Chúng Sanh Giới. Nơi Chúng Sanh Giới này chưa hẳn riêng loài người, nó chung gồm tất cả đều thọ chấp mà hoá sanh ra đủ loài. Từ các Sanh Vật đến Vạn Vật cùng con người, Tiên Thần Thánh Hoá thảy đều bị giới sanh, luân chuyển nơi kiếp luân hồi sanh tử. Bậc này nhìn khắp Thế Giới vũ trụ gọi là: THỂ. Bằng lớp lớp Chúng Sanh Giới được gọi là PHÁP THÂN, Sở Đắc Pháp Thân Phật.

Nhờ Công Đức Phẩm, nhìn nhận Thị Chứng Pháp Thân nên chi Tỏ Ngộ đặng Pháp và Tâm đều duy nhất, liền vui mừng nói:

-Tâm tiêu biểu cho Tánh, còn Tướng vốn là Pháp thảy đều MỘT, không hai. Thật kỳ diệu thay! Có Tướng có Tánh kiến tạo hoàn cảnh. Không Tướng có Tánh vốn sẳn như nhiên. Có Tâm chưa Pháp tư duy tịch tịnh

Khi bấy giờ Công Đức Phẩm Hạnh này, chỉ thực hành tròn duyên, tròn nguyện gọi là Công Đức cúng dường Như Lai. Nhờ Như Lai, nương vào Như Lai mà dung thông Pháp Giới, thị chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn. Đó phải chăng Bảo Pháp cao quý giá trị, khó nghĩ bàn chăng?

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài dạy đến đây, nâng tách trà thấm giọng, nhìn khắp Tứ Chúng xét xem có nhận lãnh đặng phần nào. Ngài dạy tiếp: Thật ra Tứ Chúng nghe, tôi được nghe vui mừng khó tả, muốn đứng lên tán thán tri ân, nhưng chưa kịp, Đức Tăng Chủ liền dạy:

- Các ông nên biết: Mỗi một Phẩm Hạnh Diễn Tiến giá trị cao quý như thế, đã có Bậc thực hành kết quả đi trước. Kẻ tu trì đi sau phải cố gắng thi hành. Chính ra, như tôi hiện nay hoàn mỹ vẫn nương nhờ Công Đức Phẩm, nẩy nở công năng, từ thấp trưởng thành Tối Thượng Chánh Giác, đoạt đến Vô Thượng Phẩm, khó nghĩ bàn.

THẾ NÀO LÀ VÔ THƯỢNG PHẨM?

Vô Thượng Phẩm. Các ông đang sinh sống với tôi, các ông đang ngồi ngay trước mặt tôi, các ông chỉ nhìn tôi bằng đôi mắt vừa tầm cùng nhận thức lãnh hội với Công Đức nơi các ông đang tu, chớ nào vượt tầm Công Đức Phẩm? Tôi thường nói, hoặc giả hay nói hai chữ THỊ HIỆN, các ông chỉ Tin Vâng Kính tâm tình nhận lãnh, chớ nào hay biết chi nơi Thị Hiện của Tôi. Nếu so về Phẩm, tôi và các ông xa hằng bá thiên vạn ức do tuần, khó tường tận là như thế. Chỉ có Chư Phật mười phương, đã từng Phẩm Hạnh Bá Thiên vạn ức Phật, trở thành Vô Lượng Công Đức Phẩm, mới nhận thấy nhìn thấy tường tận nơi Thị Hiện của Tôi mà thôi.

Đối với Phẩm Hạnh, thấp cao từng thứ lớp, vì Lý Trí nơi Công Đức Phẩm xuất xứ khác nhau, cho nên Phẩm Hạnh nơi Bồ Tát Hạnh nói ra một câu, hàng Nhị Thừa như:Thinh Văn, Duyên Giác, khó nghe đặng, làm sao nhìn thấu Phẩm Hạnh Bồ Tát phải phương tiện, công dụng hạnh Thinh Văn, hạnh Duyên Giác để giúp Thinh Văn Duyên Giác tu trì Công Đức Phẩm. Thì Bồ Tát làm sao thấy nơi Thị Hiện của Bậc Vô Lượng Phẩm, cớ sự như thế nên các ông không thể nhận thấy hay đặng thấy Thị Hiện.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ Ngài dạy đến đây, lặng thinh ra chiều đắn đo suy nghĩ. Bất chợt Ngài nói: Tuyệt tác thay! Vì duyên gì ngày nay TA nói lên lời Thị Hiện. Các ông hãy nghe lời nói thật nơi Ta:

Chính Ta hạ sanh là bổn nguyện chung cùng Chư Phật, đem về lượng mà nói thì Ta với các ông như nhau, chỉ nương nhờ Phẩm Hạnh Vô Lượng Phẩm nên Chư Phật mới đồng đẳng hiện thân cho bổn nguyện hoàn mỹ nên chi:

Tất cả hoàn cảnh diễn cảnh đương thời Hạ Lai Mạt Pháp, Chư Thiên kiên sợ, Chư Tiên tránh né, Ngũ Trược Ác thế đến Thiên Thần thảy đều xa lánh ủy mị tác quái, chẳng dám đến gần nơi nhân thế. Vì sao? Vì nhân sinh bị sanh đương thời Mạt Pháp Tận Độ, nơi thời tận độ nó độc ác chẳng kém thời Thượng Sanh, vì như thế nên từ hàng Sơ Trụ Bồ Tát phải điên đầu vì Chúng Sanh thường Chấp, bị trụ nơi Lý Chướng Sự Chướng, không làm mong được, chẳng tu trì ưa chứng đạo. Còn hàng Nhị Thừa phải ẩn dật trong rừng sâu cầu lấy lối sống tạm yên, vẫn bị quấy nhiễm. Ta liền Thị Hiện, Công Lực, Đại Lực Tôn Phật mà gánh chịu.

Khi Ta đăng đàn thuyết minh hoặc giải vạn pháp Tối Thượng trang nghiêm, khai thị liền có ĐỨC DIỆU ÂM PHẬT cùng Chư PHẬT mười phương đến chứng thị. Bằng lúc Ta chứng minh Tứ Chúng, hay hành lễ có Chư Phật chứng giám. Ta kêu gọi Chư Long Thần cùng tất cả các hàng Bồ Tát tề tựu hộ trì, liền có ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT Thị Hiện tại chổ.

Lúc Ta Tĩnh Tọa an tọa chánh định viễn đạt, tất cả thảy đều viễn thông, thần thông, thị chứng từng sát na quán sát, giao cảm Tam Thiên, Tam Thế Phật, cùng các Chư Thiên, vẫn chuyễn Tam Muội mỗi mỗi điều Thị Hiện tại nơi nơi chốn chốn, đều đồng đẳng TỲ NÔ GIÁ NA PHẬT, chủ trì danh hiệu TỊNH VƯƠNG PHẬT giúp đỡ. Hôm nay Ta thành thật tuyên rõ Bảo Phẩm duy nhất tu đạt không ngoài Công Đức Phẩm Hạnh diễn tiến thành tựu vậy.

Ngài dạy đến đây Ấn Chỉ tuyên đọc bài thi năm trước, in tuồng nhắc nhở Tứ Chúng sáng soi, chính bản thân nơi mình Công Đức Phẩm Hạnh mà Chánh Giác. Ngài đọc:

Ứng Thân Long Thọ vẹn tuyền.
Còn TÂM. TRÍ. ÓC của Tiên-Thánh-Thần.
Giác hoàn chính thật là THÂN.
Tại sao chưa tỏ phân vân nỗi gì?
Tìm đâu nhìn lại Bài Thi.
Lời Ta đã nói những gì PHẬT NGÔN? 

NAM MÔ DI LẠC TÔN PHẬT
Ngày 20-04-1982

3. PHẬT ĐẠO BỊ NGOẠI LAI

Theo thường lệ, mỗi năm, đến ngày 30 tháng 09 âm Lịch, cử hành Đại Lễ Chứng Minh hằng năm của Giáo Hội, cùng ngày Vía Phật ĐÔNG ĐỘ DƯỢC SƯ LƯU LY QUANG NHƯ LAI. Tất cả Tứ Chúng có Tín Thành đều tự ý về Trung Ương Hội Thượng dự lễ.

Từ năm 1975, cuộc Đại Lễ bắt đầu giảm chế. Tứ Chúng không được về tự do, vì sợ tập trung đông đảo lại thiếu phương tiện nghỉ ngơi, thêm vào đó cuộc đi lại khó khăn về xe cộ, nên mỗi nơi cử lấy một vài vị về dự lễ.

Tôi còn nhớ. Năm 1978 tôi về Trung ương, đường đi khó khăn, xe đò bị hỏng máy phải ăn nằm dọc đường, ngày hôm sau mới về đến Trung Ương, vào lúc 9 giờ sáng, tôi tắm rửa thay quần áo xong, bước lên Tịnh Thất hầu thăm ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ.

Ngài nằm trên chiếc ghế vải Nilon màu xanh nhạt. Trong Hội Thượng có hơi vắng người hơn trước kia, chẳng còn nhộn nhịp như mấy năm xưa nữa, chỉ gặp năm ba vị đang trang trãi Chánh Điện. Ngài nhìn tôi, nét mặt có vẽ vui mừng, hòa với nét suy tưởng. Tôi nhẹ cảm biết Ngài đang nhập Chánh Định, tôi lặng yên đảnh lễ ngồi một bên, chỉ thưa gởi vài điều vấn an sức khỏe.

Khi bấy giờ Ngài lần lượt hỏi thăm Tứ Chúng Sàigòn, từng vị đã tu, đang tu cùng bậc mới vừa nhập đạo, đâu đó xong xuôi, Ngài nói: Ông Tạng Bữu, Ông về Tôi rất mừng, Hiện Tôi đang hợp tùng cùng Chư Phật, hợp bàn về vấn đề Phật Đạo bị Ngoại Lai xâm nhập, nên chi đến thời này gọi là thời Mạt Pháp.

Tôi nói như thế để ông hiểu, ngoại lai nó từ nơi Phẩm đến Lượng di chuyễn thâm nhập, khiến các bậc tu hành mới cần đến Công Năng, Công Năng từ nơi Tâm Chí thiết tha cầu đạo, cốt lướt qua từng trở lực nơi Ma Nghiệp Ngoại Lai ngăn cách và lừa gạt, mới mong đoạt đến Sở Cầu Hoàn Lai Chân Thiện.

Bằng những bậc tu biết sáng soi rỏ đó là Nghiệp Thức nơi tư tưởng, nghiệp lực nơi nghiệp căn thời chính nó là ngoại lai khôn khéo đi đứng nơi khái niệm văn từ, diễn biến theo tư tưởng, có lúc ngỡ mình Giác, liền bị ngoại lai lừa dối, tu như thế rất phí phạm công phu, chưa hoàn giác lầm lạc ngoại lai đi vào Tà Kiến.

Ông nên nhớ: Theo tài liệu: Dưới sự nhận định Vũ Trụ với con người, tôi đã nói: Khi Đức Phật Thị Hiện nơi Ấn Độ, phái Thần Đạo trọn quyền Tế Lễ dùng sát sanh thú vật tế Thần, giai cấp con người với con người nô lệ, Oan Hồn uổng tử Ma Đạo dẫy đầy. Ngài nói đến đây, lặng yên trong giây lát Ngài nói tiếp. Theo tôi được biết không riêng chi Ấn Độ, tất cả các nước trên hoàn cầu thảy đều bị sống trong tình trạng mê tín nơi ngộ lẫn cái mê không thể nào chấm dứt.

Từ Ngày Phật Đạo thành lập thì Thần Đạo bắt đầu giảm nghiệp sát sanh, nhờ nơi ấn quyết nhân quả. Tất cả Nhân Sinh Tứ Loài nhận chân Phật Tánh, vì lầm nên phải hướng chịu nơi Sanh Tử mà bị Hạ Sanh. Nơi thuyết minh này nếu tận thấy thì nó sâu xa của kiếp luân hồi bị ngoại lai sanh tử. Đến ngày hôm nay, nghiệp sát tiêu giảm đối với các bậc tu hành về Đạo Phật, nhưng lại quá ư lệ thuộc ngoại lai Ma Đạo quấy nhiễm, từ nơi tâm trạng ý thức quan niệm, nên chi nơi Chùa Tháp các Chư Tăng tu trì cổ võ, từ bên ngoài hình thức Tu Phật, kỳ thiệt chưa thấu ngoại lai dung dưỡng Ma Lực, tự sống nơi hình sắc bên ngoài có sắc thái tu tập theo giáo điều của kinh điển đầy đủ hình thức. Nhưng bản thân nào hóa giải vô minh cốt tỏ rõ ngoại lai xoay chiều đủ hướng,chính nó là Nghiệp Thức Cá Tánh thọ ngã sự chướng chấp Lý chướng, chính nó khôn khéo ru ngủ, khéo khôn đưa đón, làm cho các bậc tu hành phần nhiều chưa hay biết, miễn sao tự mình xâm chiếm chức vị Cao Tăng Đại Đức, lại cùng nhau dung túng ngoại lai trở thành tu hành phe phái đồ chúng khắp nơi làm cho Đạo Phật càng ngày càng giảm giá trị tỏ tánh kiến tri Phật Đạo.

Đối với Đời, cùng bậc khách quan dân chúng, nhìn Đạo Phật với người Tu Phật, có lối sống cầu an với một đám rừng người tiêu cực mê tín. Tôi nói ra đây với tinh thần trách nhiệm, sự tu hành lầm lạc bị ngoại lai nên đa phần bị tình trạng nơi đây chưa phát triển.

Đứng nơi cương vị thuyết minh chỉ thẳng, nếu nói có một chiều, hay nói toàn diện thảy đều như thế thì chưa hẳn là đúng, vẫn có những bậc Tu Cầu tích cực, tu hành nghiêm túc đoan trang, tự sửa mình tu giải nghiệp, nương theo kinh điển làm tài liệu lời vàng. Nhưng tiếc thay chỉ tầm cơ hiểu biết phần nào, tựa như chỉ một miếng mồi tạm tu, tạm tỏ, liền tự cho mình Tri Đạo, cho đến bậc tỏ tánh chân không đã cho chính mình Sở Đắc. Nào có hay Chân Không có rất nhiều tu chứng bị chứng, đến thực chứng. Từ Phàm Phu triết học đến Tiên Thánh chân không, chung lại vẫn còn lớp lang ngoại lai diễn đạt, do nơi diễn đạt của ngoại lai mà Chư Bồ Tát phải tu trãi qua nhiều kiếp, Hành Thâm Pháp Giới, thi hành hạnh nguyện, kiểm điểm nội tâm trực chứng ngoại cảnh, cốt tỏ ngộ theo căn cơ, để khỏi lầm ngoại lai đề đạt thấp cao của cấp bậc tu chứng, hóa sanh hay bị sanh hoặc đặng sanh cùng tự sanh cứu cánh giải thoát.

Dưới sự tu hành có lập trường nhất định phải nhất tâm xem xét tư tưởng tánh chất Ma Nghiệp cản ngăn, không để cho ngoại lai xâm chiếm con đường Tu Phật đoạn duyên mới sở đắc chứng tri nơi luân chuyển trong bước đi đón đưa các bậc tu hành vào sanh tử, cho nên con đường Tu Phật từ nơi Tự Tánh Tỏ Tánh, chớ chưa đến Thông Tánh, khi đến mức Thông Tánh chớ chưa hẳn là Đạt Tánh. Lúc Đạt chớ chưa phải đã Tận Tánh, bằng Tận chớ chưa Thành thời sao ? Tình trạng nơi tu hành, các bậc tu chưa:TỎ THÔNG, chưa ĐẠT TẬN làm sao hoàn mỹ để THÀNH.

Bằng Pháp chấp tu đến nơi mơ màng, từ chổ hóa giải có hiện tượng Mộng Tưởng, khi Tự Tại Vô Ngại liền phát sanh Kiến dục, những sự việc tu hành trên thảy đều do ngoại lai điều động, nếu sa vào ngừng nghỉ có lúc phải bất tín sa ác đạo.

Ông cũng nên biết, tất cả Lý Sự hiểu biết chính nơi bản thân trí tuệ nghiền ngẫm qua lại, kiễm soát cho thật rốt ráo chớ nên tu một chiều hướng chấp nhận, cốt tỏ rõ ngoại lai xâm nhập mà rốt ráo. Trong trường hợp các bậc tu hành đã mấy ai ví bằng Thánh Nhân TRANG TỬ còn phải lầm trong ý nghĩ của mình mà chạy theo Ngoại Lai điều khiển phải thử Vợ hành sự Quật Mồ, huống chi các Tăng Ni đường tu chưa căn bản thuyết minh mơ màng làm thế nào khỏi lầm lạc.

Phải chi Trang Tử tận giác di chuyễn ngoại lai đối với tất cả con người, thì có đâu phải xẩy ra câu chuyện thử vợ Quật mồ, cho đến những bậc chưa thông thái, chưa tận đạt làm sao tỏ rõ con người đang sống, nó phải sống phục vụ ngoại lai nhiều hơn có lập trường soi sáng, vì vậy nên chi tâm ý thay đổi không ngừng, thèm khát vô cùng tham muốn, có như thế mới có cuộc đời đã mấy ai trung thành cùng ai, chỉ có bậc tu hành Tận Giác mới trung thành tín nghĩa mà thôi.

Thời Đức THẾ TÔN còn tại thế, vì Ngài Tận Giác nên tận biết ngoại lai xâm nhập tư tưởng mọi người, khi phát tâm tu hành, tâm thức tán thưởng, sự tán thưởng đó chính nơi ngoại lai nương theo tán thưởng trong đường tu, nó tùy nghi trí hóa mới có căn nghiệp, mới có những sự tàn phá đường tu, nên các bậc tu phải ngừa trước chớ lầm tưởng phát tâm dũng mãnh mà không có nó.

Đức BỔN SƯ Ngài mới nói trong hội trường, hiện diện có đầy đũ Tứ Thánh. Nói xong Ngài mới chứng minh, Vị Lai thời Mạt Pháp.

Ngài nói:Đương thời, các ông đảnh lễ Tôn Kính Ta làm bậc thầy chỉ đạo duy nhất của các ông, nói như thế chiêm ngưỡng lễ bái như vậy, chớ nào hẳn như thế, vì sao? Vì thân mạng của các ông đã từng chứa hàng vạn Thầy từng giai đoạn dạy các ông, cốt ngăn cách lời chỉ giáo nơi Ta, không chấp nhận Ta. Do nơi ấy mà các ông chưa lãnh hội lời chỉ giáo, nếu các ông có lập trường công năng, tiêu giảm các ngăn cản, qua các trở lực từng giai đoạn, các vị Thầy lần lượt ra đi, lần lượt giảm, thời các ông lần lượt lãnh hội nghe đặng, thấy đặng lời Ta đã từng nói, ngày nay mới nhận lãnh, Ngài dặn dò xong Ngài quay lại nhìn DI LẠC TÔN PHẬT Chứng Minh thừa kế gọi là ĐƯƠNG LAI HẠ SANH DI LẠC TÔN PHẬT.

Tuyệt tác thay! Đức BỔN SƯ, Ngài chu đáo đến thời sau, Ngài tận tường duy nhất chỉ có Đại Lực mới khiêm nhiệm đủ toàn năng với Ngoại Lai xâm chiếm. Lúc bấy giờ Đức Đại Lực mới công dụng Sắc Thinh Hương Vị mà không nhiễm cốt nương theo tường tận ngoại lai chánh giác. Đối với Đại Lực không riêng chi Nhân Sanh Tứ Loài, Vũ Trụ Tam Thiên, vì sao? Vì Đại Lực Viên Đạt huyền cơ đã từng nằm trong Bao Đãy, có quyền tháo gở ngoại lai độc nhiễm cho những bậc tín tâm tu cầu Tri Kiến Giải Thoát.

Ngài mới Ấn Truyền cho tất cả những bậc tu hành thời Lạc Pháp đặng tường tỏ và biết:Ngoại Lai xâm nhập nó là:Nghiệp Thức, Nghiệp Căn, Nghiệp Lậu cùng Nghiệp Chướng, thâm nhập gọi là Kiết Sử.

- Khi chưa rõ, chưa tận nó là VÔ MINH.

- Chưa Thông nó, là TÁNH di chuyễn là PHÁP TÁNH.

- Chưa đạt nó, là Pháp Thân.

- Chưa tháo gỡ còn mắc miếu nó, là PHÁP GIỚI.

ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ dạy đến đây, thở một hơi dài khoan khoái, mỉm cười đọc thi:

Ta muốn nói những gì sẽ nói.
Hiện tình này còn gói nơi tim.
Một mai bóng chiếu gương thềm.
Lời Ta đã nói từ đêm hóa ngày.


Ngài dạy tiếp, Ngài nói tiếp những câu thâm tình, nơi lời Ngài thốt, Thời pháp ngoại lai khá tỉ mỉ dễ nghe, nhưng đối với hàng Tứ Chúng chưa lãnh hội đầy đủ toàn vẹn, nên đồng đứng lên thỉnh cầu, khi được nghe Ngài chấp thuận ban hành trong Giáo Ngôn Ấn Chỉ, tất cả thảy đều mừng rỡ ghi chép phụng hành.

NAM MÔ THƯỜNG TINH TẤN BỒ TÁT MA HA TÁT
Ngày 16 tháng 04

4. PHẬT ĐẠO ĐỐI VỚI GIÁO MÔN

Lúc bấy giờ, ĐỨC LONG HOA TĂNG CHỦ đã kết nạp Giáo Ngôn Trực Chỉ bài thứ Ba. Ngài sai ông Tôn Giả Pháp Khả cùng với Pháp Quyên mang vào Sàigòn cho Tứ Chúng tu học. Còn một nửa sai Kim Xoa là đứa con gái của Ngài ra Qui Nhơn Đà Nẵng hai tỉnh để cấp cho.

Mùa Kiết Hạ Ngài rất thong thả, vì công việc chăm sóc có Thu Minh và Kim Oanh thu xếp. Về phần Chánh Điện tại Trung Ương có Pháp Hậu và Tạng Thuận, phục vụ lúc Ngài cần đến.

Ngài nhập Chánh Định hằng ngày không nhàm chán, vì sao? Vì Chánh Định thường tịch là nơi an trú, trong thời gian thực hành Bổn Nguyện chờ đến Nhập Niết Bàn, do như thế không nhàm chán. Có đôi lúc Ngài thường nói với Tứ Chúng: Ta chỉ đạo, tất cả những giáo lý biên soạn rất yếu điểm tu tập trên con đường Tri Kiến Giải Thoát rất cần thiết, những yếu điểm ấy Đức BỔN SƯ chưa giải kịp hoặc Ngài đã giải, nhưng chưa thuyết minh đúng với thời Hạ Lai Mạt Kiếp, đa phần sự tu tập lười trễ, tận dụng kém Công Năng của các ông, lại hay theo kiến dục mà thọ ngã. Do lẽ ấy nên tôi mới bổ sung thuyết minh rành mạch đầy đủ hóa giải có tài liệu tu trì hậu thế. Từ bài Thi Văn đến Giáo Lý cùng Giáo Ngôn chỉ tu hành dụng Tâm Giác mà nhận lãnh tường tận.

Các ông nên nhớ. Cứ mỗi một thời có một Đức Phật thị hiện, chính lời Phật đều là lời PHÁP HOA chánh giác, được gọi là Diệu Pháp Liên Hoa Kinh đễ ghi nhớ đọc tụng, chớ chưa mấy ai nói, gọi là kinh Pháp Hoa hay tự nhận là giải Kinh Pháp Hoa cả. Ta đã từng biết như thế, từng nói như vậy. Sự tu hành nên áp dụng Hạnh Nguyện mới tỏ lời minh thuyết tu trì. Các ông gần bên ta nhiều hay ít, sự tu hành lâu mau dài ngắn, thời nơi Công Quả của các ông tự nguyện sở cầu, không sai chạy, hay mất mát, được lành lẽ công đức mà Chánh Báo không sai chạy. Vì sao? Vì Ta áp dụng chỉ đạo, con đường tu tập tuần tự theo Bi Hoa Kinh Tối Thượng, Bi Hoa Kinh là mỗi một bước đi của Chư Bồ Tát cùng Chư Phật đã đi, đến các hàng Tứ Thánh đang đi, tất cả sự tu trì chứng minh đều nơi kinh Bi Hoa thọ ký. Các Bậc tín tâm tu trì phẩm hạnh công đức lớn nhỏ gìn giữ trọn vẹn nhất tâm đảnh lễ chu toàn vẫn có phước báo đến chánh báo tùy nơi sở nguyện mà trọn hưởng.

Ta đã soi hoặc giả đã từng soi, đối với nhân sanh, bậc có nhân cách, biết tự trọng, biết nhân cách con người, liền có uy tín, còn đặng tất cả con người kính nể, chánh báo phước điền thay, huống chi bậc phát tâm tu hành chánh tín, làm gì không được giải thoát hay sao?

Những bậc đang tu, phát tâm hay Đại nguyện, rất cần thi hành lời nguyện, đó gọi là Bổn Nguyện chung cùng với Chư Phật. Bằng phát nguyện chưa thi hành lời nguyện thời có phải chăng lý thuyết chẳng thực hành làm sao tri kiến?

Kinh Bi Hoa từ lời nói đến việc làm, từ nơi minh thuyết phải giải quyết chu toàn không thiếu sót. Bi Hoa Kinh đối với bậc tu, từ nơi thực hành đến Thị Chứng, từ nơi hạnh nguyện đến tỏ thông, nên chi phải có công năng tu trì đoạt thật tỏ rỏ bất nhị, Bi Hoa Kinh chính là một Tạng Kinh tất cả Chư Phật chỉ đạo cùng chứng minh từng thứ lớp cho các Bậc, từ mỗi Công Đức đến Chư Bồ Tát tri kiến giải thoát .

Trên bước đường tu tập, nơi nhận chân của các bậc tu hành, rất khác biệt nhau, do thành thật tâm, dù cho tâm ấy đang trong lúc lầm mê chăng nhưng chân tâm thành thật đã từng nung đúc, nhờ như thế nên một ngày nào lộ diện mà sở đắc chân không trên con đường tu Bồ tát Hạnh, bằng có sự thiết tha tâm cầu đạo trước sau vẫn toại nguyện, vì sao? Vì nương nhờ nơi Bi Hoa Kinh thành đạt.

Khi đương thời ĐỨC BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT ngài thuyết đạo Tối Thượng, cho bậc hóa giải chấp mê, trí tuệ công năng kiến tạo, cứu cánh giải thoát cầu đạo Vô Thượng Bồ Đề. Còn trên bước đường tu tập, tu trì và tu hành tuần tự Chứng minh nơi Bi Hoa Kinh cốt tận tường sở đắc.

Còn bậc thành thật, thiết tha tâm, trí tuệ kém, khó thực tiễn hóa giải chấp mê, Ngài liền chỉ thẳng nói thẳng kinh:PHẬT THUYẾT DI ĐÀ KINH cốt các bậc tu hành chuyên trì đọc tụng, chuyên trì Niệm Phật Di Đà liền vãng sanh Tịnh Độ, như thế đủ chứng tỏ tùy thuận căn cơ chỉ giáo, chứng tri nơi Bi Hoa Kinh thành đạt. Nơi kinh Di Đà Phật thuyết, Ngài khéo léo nói thẳng Tự Tánh thành lập, Tự Tâm kiến tạo, Tự Nguyện tu trì thành đạt như sau:

CHÍ TÂM ĐẢNH LỄ

Nam Mô An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội:

VÔ LƯỢNG QUANG NHƯ LAI

VÔ BIÊN QUANG NHƯ LAI

VÔ ĐỐI QUANG NHƯ LAI

DIỆM VƯƠNG QUANG NHƯ LAI

THANH TỊNH QUANG NHƯ LAI

. . . . . . .

Ngài Ấn Chỉ trong mười hai mục, cốt khai thị cho bậc tu hành tự tánh viên đạt, tự tánh viễn thông, tự tánh hóa giải cốt, chính nơi tự tánh thành lập, nơi viên đạt kiến tạo thành lập viễn thông.

Ngài nói, các ông Tự tánh thành lập tu trì không có hạn lượng, chẳng suy tính biên giới, chớ nên chướng đối, chớ dung dưỡng ảo mộng tối tăm, tâm đặng thanh tịnh dung thông liền thành tựu An Dưỡng Quốc Cực Lạc Giới Di Đà Hải Hội. Đó chính lời ấn chỉ cho tất cả bậc tín tâm thành thật, tự giác phải chí tâm đảnh lễ cốt lãnh hội lấy.

Nói đến thiết tha thành thật tâm thì đã quá nhiều bậc tu hành thiết tha thành thật, họ vẫn nhất tâm đảnh lễ nhưng khó nhận chân, thế nào để thực hiện nơi thiết tha thành thật tâm cầu Đạo Bồ Đề cho khỏi sai lạc Chân Tôn Mục Đích?

CÂU CHUYỆN: NHẤT TÂM CẦU CHÁNH GIÁC

Thời quá khứ, có nhà Vua Chân Thành cầu Đạo, rất thiết tha tu trì. Nhà Vua tu đủ chiều hướng, nhiều lúc muốn bỏ cung vàng để lang thang cầu đạo.

Nhà Vua gặp đặng vị Thượng Sư, nhà Vua bái kiến cung thỉnh đàm luận. Nhà Vua hỏi vị Thượng Sư:

Làm như thế nào, tu như thế nào Nhất Tâm cầu Đạo Chánh Giác?

Vị Thượng Sư từ tốn nói:Ngày mai bệ hạ làm một cây cầu, bề ngang vừa tầm một người đi qua, bề dài từ 10 thước hoặc có hơn vẫn được. Hai bên cây cầu, bệ hạ cho một số vũ nữ lõa thể múa hát, dọc hai bên cầu. Đồng thời, bệ hạ lựa một tên tử tội, bệ hạ bảo với nó rằng:Nhà ngươi tay bưng ly rượu đầy, đi qua khỏi cây cầu, rượu không đổ, ta tha tội cho, bằng rượu đổ thì sẽ bị tử hình. Nhà Vua gật đầu thọ lãnh thực hiện.

Sau ba hôm, nhà Vua mời Thượng Sư đến bái tạ ơn nhờ Thượng Sư đã giúp cho. Vì sao? Vì nhà Vua thực hành, lưu tâm truy tầm nơi Tâm Ý của tử tội, hơn là đơn giản nhìn xem sự diễn hành nơi hình tướng, nhà Vua đặng cái nhìn nơi Không Tướng mà Sở đắc tự biết. Biết đặng con đường Sanh Tử quan trọng cận kề nên tử tội chuyên chú vào ly rượu không bị đổ mà thoát tội, chẳng nhìn nơi sắc dục cầu vui, đó chính là điểm tinh hoa chuyên chú.

Khi nhà Vua nhận biết trọng lượng con đường tu, chẳng lấy nơi ẩm thực cao lương mỹ vị làm quan hệ. Chỉ quan hệ Nhất Tâm cổi giải an nhiên mà thôi, nhà Vua đặng cái sống Giác tỏ sáng soi hơn là lề lối cầu sanh sống.

Các ông nên biết: Sự Nhất Tâm thiết tha nó nằm nơi tinh tấn trưởng thành, chớ nó chẳng phải ở nơi thiết tha tâm lười trễ, chính nó vốn ở nơi hóa giải đặng thông, chớ nó chẳng ở nơi cố chấp mà đến. Nó lại ở nơi Công Năng đặng tiến, chớ nó chưa phải nhất tâm cầu vái mà thành. Vì vậy nên chi bậc thiết tha phải thực hành tinh tấn, thực hành hóa giải tâm ngăn, kiến tạo công năng kết quả nhất tâm đảnh lễ, đó gọi là tu đúng, hành đúng với mục đích Chân Tôn Chánh Tín.

Bậc tu hành đúng với Chân Tôn Chánh Tín, liền có đường dây tự sống, cùng mạch lạc để sống. Còn bậc mới phát tâm, chưa từng mạch lạc dù có tín tâm hay thiết tha chăng vẫn tu hành lạc lõng. Vì như thế nên con đường tu Phật là một con đường chưa nên kể Tu đã lâu hay mới tu hành. Một khi đường tu có mục đích Chân Tôn thì mới phát nguyện vào con đường tu Bồ Tát Hạnh. Bậc Bồ Tát Hạnh thường hóa giải mê chấp, lúc giải xong ngăn chấp, đó là món ăn thực nơi Bồ Tát. Bồ Tát tự quán lấy Tâm Tánh di chuyển nơi mình, lúc gặp phải hoàn cảnh khó giải, bậc này công dụng hóa giải an lành, tâm không phiền trách, đó chính là y áo Bồ Tát. Bồ Tát đã qua nhiều đối tượng gây cấn, đôi mắt thanh tịnh như nhiên, đó chính là Bồ Tát Nhãn Tịnh không còn đối tượng, tận nhìn quân minh chân giác. Nhờ Đạo Hạnh kiên trì nên Bồ Tát mới đặng đôi mắt NHÃN TẠNG VỆ TINH soi khắp Thế Gian cùng Xuất Thế Gian không lầm lạc. Lại công dụng PHÁP ĐẢNH nơi đỉnh cầu nhập định xuất định viễn thông tam giới, có thể đo lường trọng lượng sắc thái nơi các Cõi trong Tam Thiên Vũ Trụ, di chuyển từng sát na thoải mái, không khác nào các nước văn minh dùng PHI THUYỀN khám phá Vũ Trụ. Do nơi công năng kiến tạo tường tận không còn mảy may nghi chấp, bậc này thường nói:Ta chẳng còn lấy một nghi chấp nào cả.

PHẬT ĐẠO ĐỐI VỚI GIÁO MÔN

Khi Đức BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT Ngài còn hiện thế, Ngài chỉ dạy Tứ Chúng tu tập, được gọi là PHẬT ĐẠO (Đức Phật chỉ dạy), dưới mắt Ngài không thành lập Giáo Môn. Vì sao? Vì Chúng Sanh đa bệnh Phật tận dụng đa hạnh hóa giải, nên chẳng có Giáo Môn. Từ những cuộc hành đạo vẫn không trụ xứ, đến thuyết giải vẫn không cho Trụ Chứng, chỉ phát tâm Trực Giác mà thôi.

Ngài chuyên về hóa giải quan niệm, hóa giải tư tưởng vọng tưởng lầm lạc nghi chấp con người, Ngài phân định nơi tranh giành tác hại sát sanh trên đường dây Sanh Tử, Ngài tan dẹp cá nhân, cá tánh, ban lời nói ra làm cho con người thông thái đoan trang cùng đĩnh đạt, cốt tự tánh hóa giải, tự giác trên con đường Sanh Tử Bệnh Lão Khổ. Từ chỗ Tu Sửa sai lầm, đến làm thâm nhập, gọi là TU HÀNH.

Ngài là Bậc Chánh Giác, Ngài là Bậc Tri Đạo. Ngài đã từng thuyết giải nơi khu rừng hoặc Vườn đất do bậc tín tâm cung thỉnh. Ngài thuyết pháp 49 năm, bậc sở đắc gọi là Chư Bồ Tát. Mỗi vị Bồ Tát duy chỉ Sở Đắc một Pháp Môn. Lúc Ngài nhập Niết Bàn có 12 TÔNG do Chư Bồ Tát Sở Đắc hướng dẫn Đạo Chúng mới được gọi là ĐẠO PHẬT.

Ngày nay, đến thời Hạ Lai Thị Hiện vẫn không Giáo Môn, tùy căn, tùy duyên hóa độ. Từ nơi TẠNG THỨC lầm lẫn mờ mịt đảo điên, thọ giới Tiên Thần làm nơi tu trì hư vọng, nên Ta mới lấy NHƯ LAI TẠNG lập giáo hóa giải nên được gọi là PHÁP TẠNG PHẬT GIÁO. Ta không xây cất Chùa làm nơi Trụ Xứ. Ta chỉ đến những bậc Tín Tâm phụng hành theo lời chỉ giáo. Ta chỉ cần những bậc tu hành TIN nơi lời hóa giải, VÂNG để thực hành tu tập, KÍNH Bảo Pháp Chân Truyền, gọi là Nhất Tâm Đảnh Lễ thành PHẬT. Lời Thệ Nguyện nơi Ta, chính là bài thi: KÍNH DÂNG ĐỨC THẾ TÔN CHÁNH BIẾN TRI. Ta đã ban hành từ lâu trong các tập tài liệu Tu Phật.

Nay Ta tuyên rõ: sự thực hiện Phật Đạo đối với Giáo Môn chung khắp, lưu cho Tứ Chúng Pháp Tạng Phụng Hành.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

5. PHẬT LỰC


PHẬT LỰC là một vấn đề Chủ Quyền, toàn năng toàn diện ĐỨC TRÍ thâu đạt tất cả MA LỰC, làm chủ trùm khắp Vũ Trụ Tam Thiên Đại Thiên Thế Giới, Vô Thượng Đẳng Chánh Giác thành PHẬT.

Ngoài ra, từ Phật Giới Quốc Độ đến hàng Đại Bồ Tát tận độ Chúng Sanh, nhưng đứng nơi Quả Vị đồng hướng Như Lai Phật cầu lấy Chánh Báo Kim Thân Đại Báo Bát Đại, chưa chủ quyền toàn diện vẫn chưa gọi Phật Lực.

Khó thay! Khó Thay! Mấy ai đã thấu đặng? Bằng diễn hành đặng Phật Lực, mấy ai đã tin đặng nơi Diệu Dụng Bồ Đề Tối Thượng? Chỉ có Phật Chánh Giác mới am tường Chánh Giác. Từ nơi diễn hành Hạ Lai Mạt Pháp vốn liên hệ với hiền kiếp Trung Thời và Thượng Sanh đồng một.

Cao quý thay! Chính mình cứu độ, chính mình diệu dụng trùm khắp Tam Thế chư Thiên, ra vào các Cõi, liên hệ giao cảm cùng Chư Phật, cốt bồi đắp cứu vãng Chư Thiên Tứ loài thoát nơi lầm mê sanh tử. Chính bậc toàn quyền ứng dụng, cho đến Vạn Phật đều áp dụng Phật Lực như nhau, thế giới rồng người nào hay biết.

Tất cả Tứ loài Tiên Thần Thánh Hóa thảy thảy đều tôn kính nơi Phật Lực nhiệm mầu cứu cánh, đại lực cứu độ, cứu vãng con người, nương nhờ nơi Phật Lực tu hành Chánh Giác.

Từ nơi Phật Lực nhiệm mầu cứu thoát, cho đến phò hộ bình an chia ra quá nhiều lý sự cầu cứu nhiều giai cấp trình độ mong cầu. Do như thế, ngày nay đa số làm cho Đạo Phật mang tiếng tiêu cực hay bọn ngoại giáo tế lễ, đưa con người tín tâm vào nơi tu hành cuồng tín van cầu, hơn là tự chính bản thân Sửa Tánh, lập Thiện Căn hóa giải Ma Lực.

Đối với Phật Lực dung thông cứu độ, không có riêng ai. Nhưng sự cứu độ phải đồng nơi Thể Chất, tín tâm thiện căn vi bản. Vì sao? Vì Phật Lực ở nơi Thiện Căn đạo đức, tâm chí bao dung xuất xứ. Những bậc tu hành hay bậc chưa tu chẳng hạn lượng, miễn có bản năng chân thiện, tâm chí bao dung tu cầu tri kiến, tu cầu thành Phật, liền đặng phổ chiếu Phật Lực cứu độ. Phật Đạo, ĐỨC BỔN SƯ đã nói lên bài Hương Tán để tất cả những bậc tu hành hiểu biết như sau:

HƯƠNG TÁN
Lư hương sạ nhiệt PHÁP GIỚI.
Mông Huân, liên trì hải hội tất diêu văn
Tùy xứ Kiết Tường vân.
Thành ý phương ân
Chư Phật hiện toàn Thân.

NGÀI DẠY:

Lư hương này có chất thơm, vẫn là Pháp Giới. Nơi chất thơm cuộn theo vầng khói không thể dùng văn tự giải nó đặng.

Nó tùy thuận nơi xứ sở an lành đồng chất như chính nó đã nương hợp nơi đây. Bậc tín thành ở một phương nào vẫn đặng đáp ân. Bằng rõ đặng nó liền chứng thị.

Đối với ĐỨC BỔN SƯ là một vị cứu tinh tuyệt tác, tâm chí vẫn lo nghĩ đến muôn loài vạn vật chìm đắm nơi sanh tử luân hồi, cầu mong Phật Lực cứu độ, Ngài đã đem hết Huyết Tâm Vô Thượng ấn chỉ rõ ràng, nhưng nào dễ chi đặng, vì chúng sanh đang bị trị do Ma Lực, cho đến Chư Thiên, Chư Tiên Thần đều bị trị trong vòng đai Ma Lực, không thể Tự Lực mà thoát nổi, chỉ tu hành thiện căn, thiện chí trở thành Đạo Đức thời Phật Lực mới cứu độ thôi. Bằng chưa có Thiện Căn đạo đức khó mà phổ chiếu.

Lại nữa: Từ nơi Nhân Trí, Thiên Trí đến A Tu La Thần Trí mỗi nơi, mỗi cảnh giới đều phải công dụng nơi trí của mình. Đối với Hạ Sanh từ Cõi Nhân trở xuống thời phải dụng Nhân Trí tối đa. Khi Thượng Sanh Cõi Trời mới công dụng Thiên Trí hoặc Tiên Thần Trí, thành thử nơi Trí Hóa có mức độ hạn lượng. Chỉ có Thiện Căn Thiện Chí hướng thượng liền đặng thoát sanh về Trí Tuệ, bằng cố hữu thời nó vẫn đứng yên, có như thế nên gọi là: Chúng Sanh Giới.

Bậc đã hoàn tất, thành tựu công đức sung mãn, thành Phật, vượt tầm trí tuệ Vô Thượng Đẳng Trí, vận dụng Phật Lực, mỗi mỗi đều thị hiện, có thể trong một ngày hoặc một sát na thị hiện trùm khắp Vũ Trụ Tam Giới, làm thế nào Nhân Loài Thiên Loài và Tiên Loài cho đến Chư Bồ Tát hay biết đặng?

Phật Lực rất bình đẳng an nhiên, bao dung quãng đại do đó nên khi Bậc Tu hành tròn nguyện lực, thời Thân Tâm bao dung bình đẳng kia thị hiện bao dung bình đẳng vô lượng Công Đức Phật mà tiến tạo Quốc Độ. Quốc Độ là hàm chứa trang nghiêm bảo pháp do Phật Lực hiện hành, Chư Bồ Tát an trú, do như thế nên Bậc Thiện Căn, Thiện Chí đến mức nào chăng làm thế nào nhìn nhận đặng.

Đến nỗi, khi ĐỨC BỔN SƯ còn tại thế, Tôn Giả A NAN trí tuệ đa văn, thiện căn thiện chí hãy còn nghi Thế Tôn trụ xứ đang sống nơi TA BÀ Thế Giới ô trược, Ngài bèn dùng Phật Lực đưa A Nan thị chứng Quốc độ, bình đẳng an bang, nơi kinh pháp đã nói.

Tuyệt tác thay! Những điểm lành, tu kết quả không hai tướng, kinh pháp chỉ rõ, lời dặn tận tường, tất cả tu nơi Phẩm Hạnh nào thảy đều không mất. Chớ nên vu vơ như mọi người đang còn nghi chấp. Mỗi một điểm lành con người đang kiến tạo, dù cho những điểm ấy đặng Phước Báo Nhân Thiên, còn hơn Sa đọa tăng thượng.

Kinh DUY MA đã nói nơi Phẩm PHẬT QUỐC như sau:

TRỰC TÂM là Tịnh Độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, chúng sanh không đua vạy sanh sang nước đó.

THÂN TÂM là Tịnh Độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, Chúng Sanh đầy đủ Công Đức sanh sang nước đó.

NHẪN NHỤC là Tịnh Độ của Bồ Tát, khi Bồ Tát thành Phật, Chúng Sanh đầy đủ 32 tướng tốt sanh sang nước đó.

Phải chăng tu tập, tu trì cùng tu hành, các Phẩm Hạnh, mỗi Phẩm đều Chánh Báo đáng kể chăng?


Những bậc tu, thân tâm bao dung, trí tuệ thanh thoát, trí hóa bình đẳng, bất ngờ Sở Đắc Bình Đẳng Tánh Trí, Tâm lại thường quán khắp Vũ Trụ, Sở Đắc Quán Đảnh Như Lai, thân tâm Công Đức Phẩm cúng dường Như Lai. Sau khi thành Phật thân tâm là Như Lai trùm khắp. Đối với Bậc Chánh Giác thân vốn Như Lai, đó chính như nhiên không hai tướng.

Nơi Kinh DUY MA, Ông A NAN xin sữa:

Ông Duy Ma quở trách:Ông A Nan, ông chớ nên nói thế, Như Lai bất diệt, Như Lai nào có bệnh, ông nói như thế bọn ngoại giáo nghe, họ tự sanh lòng sanh diệt. Làm cho A Nan bở ngỡ chưa phân định được, liền bưng bình bát trở về. Sau đó trên hư không mới gọi:Ông nên lấy sữa để Đức Thế Tôn dùng. Vì tất cả Chúng Sanh đang bệnh nên Phật mới thị hiện bệnh, chớ nào phải Ngài bệnh.

Thật cao quý thay! Có mỗi một điểm tựa nhỏ mà Chánh Báo vô tận, thân tâm bao dung, biết trọng cho tất cả mọi người, tha thứ cho tất cả mà tự đặt mình vào cương vị quá ư tuyệt mỹ. Do đó nên chi Bồ Tát phát Đại Nguyện rằng: Như Lai vô biên thề nguyện sự. Những bậc tu hành, trên con đường tu tập vẫn tu cầu trí tuệ Bát Nhã cốt cúng dường Như Lai. Trí Bát Nhã chưa hẵn là trí rỗng không, Trí Bát Nhã chính là trí bao dung không thọ chấp tự cao, tự mãn, tu hành đến rốt ráo tận giác.

Thời ĐỨC BỔN SƯ cho đến Thượng Kiếp nơi Chư Phật quá khứ, thảy đều công dụng, tận dụng Phật Lực. Chính nơi Ngài, tình trạng đương kim chỉ đạo cho Tứ Chúng, chẳng biết làm thế nào cho Tứ Chúng tin được lời vàng phát hiện từ nơi Kim Thân Phật Lực tiềm năng vô lượng trao tặng Bảo Pháp để cho sự lãnh hội tương thông, do đó nên chi Ngài trang nghiêm chỉ thẳng. Ngài nói:Các ông hãy tin lời Ta nói thật, cốt nhắc nhở sự lưu tâm lãnh hội, hai nữa, bậc rõ đặng giá trị Kim Thân Phật Lực thời liền Sở Đắc chân lý do nơi chuyển luân Phật Lực tương thông. Khi mà ĐỨC BỔN SƯ cầm cành hoa đưa trên Hội Trường, chính MA HA CA DIẾP nhận lãnh liền chứng thị: THỰC TƯỚNG VÔ TƯỚNG Tam Muội Pháp Môn, đó phải chăng tương thông Phật Lực?

THẾ NÀO LÀ: PHẬT LỰC và PHẬT TÁNH

PHẬT LỰC viên dung bất biến chủ quyền sáng soi, còn Phật Tánh thường nhiễm hay trú, Phật Lực toàn năng chủ lực. Từ nơi Phật bị che mờ nơi Tánh, nên gọi là PHẬT TÁNH. Phật Tánh khi bị Tánh liền trở thành nhiều tánh, nơi Tánh thường sanh, nơi thường sanh nên thường diệt. Bằng nơi Tánh thường sanh hay diệt không trụ chấp gọi là Như Nhiên Tánh, nếu trụ chấp bị thọ chấp gọi nó là Nghiệp.

Các bậc Tu Hành sửa Tánh cốt sáng soi đặng tỏ tánh mới tu đạt Bản Thể Tâm, gọi là Minh Tâm Kiến Tánh.

Nơi Tánh hay sanh thường diệt, năng biến lầm mê hay nhiễm bị nhiễm. Căn cứ mỗi một vị hay mỗi chúng sanh thảy đều có một Căn Tánh tập khí che Phật, nên mới có câu: Nhất Thiết Chúng Sanh giai hữu Phật Tánh.

Nơi Căn Tánh tập khí, chính căn tánh sanh tử không ngoài BA CÕI, SÁU ĐƯỜNG. Có bậc căn tánh ưa chuộng Thiên Tiên nơi Ba Cõi. Có kẻ thọ bẩm ưa thích tàn bạo, hoặc ngay thẳng từ tốn như: Thiên, Nhân, A Tu La, Súc Sanh, Ngạ Quỷ cùng Địa Ngục, tất cả từ ngôn ngữ đến hành động phát hiện tiêu biểu cho mỗi giới Căn tánh tập khí.

Mỗi một Tánh tập khí, hiếm bậc thật tỏ rõ nơi Căn Tánh mình. Vì sao? Vì mỗi một Tánh cơ bản tập khí, ngoài ra có hằng hà sa số Tánh ra vào thay đổi phụ thuộc. Do nơi Vọng Khởi nên nó diễn hóa mà thành nhiều Tánh. Từ con người cho đến Chư Tiên Thiên trong Tam Thế Vũ Trụ bản thể thảy đều vòng đai luân hồi sanh tử.

Tánh phụ thuộc diễn hóa gọi là Ma Tánh. Khi chưa qua nổi sự ngăn cản trở ngại gọi nó là MA LỰC. Bằng thâm nhập thời phải lai sanh nơi Cõi chủng tánh đã thọ nghiệp gọi là Chủng Nghiệp. Sự Luân hồi nơi sanh tử chẳng tìm đâu xa, chỉ nhìn ngay lúc còn hiện diện sinh sống, gọi là: Nó ăn ở như thế nào, khi chết sẽ sanh về nơi ấy.

Bậc tu hành lúc qua trở lực, khi tận thấu diễn hóa vạn pháp mới biết đặng không có Ma Tánh, qua từng trở ngại tế vi, do nội tâm phát hiện mới liễu thông sự ngăn cách cản trở nơi Ma Nghiệp, nơi nghiệp lực của Ma Lực nó rất đáng kể. Khi các bậc tu hành qua các trở lực, nhiếp độ trong sạch căn tánh liền Chân Giác Ba Cõi, Sáu đường, trở thành TỰ TÁNH PHÁP THÂN, rốt ráo Pháp Thân mà Chánh Giác Bát Đại. Bằng chưa Chánh Giác, Nơi Tự Tánh, Tự Ngã Pháp Thân thời thảy đều Pháp Giới Phật Giới. Khi đã vương nơi Phật Giới an trụ Pháp Thân, thời gian liền thị hiện Tam giới Độ sanh Tận Giác Vô Thượng Chánh Giác Bát Đại Niết Bàn.

Thật khó khăn thay! Bậc Vô Thượng Chánh Giác chủ quyền Phật Lực thành Phật. Còn cái khó nữa là những bậc tu hành gặp đặng Phật, nên chi ông A NAN mới nói trên bài:

KHAI KINH KỆ

Mở đầu Khai Kinh, thật là Vô Thượng thậm thâm vi diệu Pháp. Nơi bá thiên vạn kiếp khó gặp, Tôi khiêm nhiệm lời văn đắc bảo trì. Nguyện giải toàn lai chân thật nghĩa.

Những sự khó khăn trên thành Phật và gặp đặng Phật, đó là điểm nội dung chớ chưa phải là Tâm Trạng. Nơi Tâm Trạng của bậc Vô Thượng tận độ Chúng Sanh mới thật khó khăn vô kể.

Chúng Sanh đa bệnh Phật phải Đa Hạnh, tùy thời mà tận độ, tùy nơi thế mà Hiện Thân. Mặc dù Phật Lực chủ quyền, nhưng nào ai hay biết? Duy chỉ có Phật mới biết đặng Tâm Trạng chung của Bổn Nguyện mà thôi. Trước sự đồng cảnh ngộ, đồng tình trạng gay go mâu thuẩn cùng đồng định hướng đưa cho tất cả các tín tâm đến Căn bản Thường Chân Tỏ Tánh gọi là Đồng Bổn Nguyện Nhất Thiết Trí, lý sự khó khăn, đồ chúng gây tạo, thời thế suy tôn hay bài bác, con người có ưa chuộng tín tâm hoặc bất tín đều phải trải qua cho tròn nguyện. Đến nổi ĐÔNG ĐỘ DƯỢC SƯ lập Đại Nguyện, Tây Độ A DI ĐÀ phát nguyện Tây Phương cứu độ. Từ nơi ngôn thuyết của Chư Bồ Tát, từ chỗ Phật Thuyết Đại Thừa Tối Thắng Diệu Âm nơi Pháp Hoa Kinh Đại Lực.

Tình trạng Đại Bi nơi Chư Phật cùng Chư Vị Bồ Tát đối với Chúng Sanh vô kể khó nghĩ bàn. Vì sao? Vì chúng sanh mãi lầm mê đi vào ba đường ác, Đức Phật ĐÔNG ĐỘ nguyện đưa đến Trực Giác cho chúng sanh. Khi chúng sanh tu hành còn non nớt, túc mạng ngắn ngủi, lâm chung Ngài nguyện đưa về Tây Phương Tịnh Độ để tiếp nối tu hành. Chúng Sanh vì lầm than cực khổ tai nạn liên hồi, liền có QUÁN THẾ ÂM cứu độ, lúc tu hành quên nhớ không chừng, tín tâm đặng ĐẠI THẾ CHÍ BỒ TÁT giúp đỡ. Nơi Bổn Nguyện qua từng thời có PHỔ HIỀN HẠNH trợ giúp, thật ra không thể nào kể hết, từ Phật SÁT NA đến VI TRẦN PHẬT tất cả thảy đều công dụng TÌNH Duy Nhất Phật Lực cứu độ chúng sanh. Nơi Tình duy nhất kia lại có trạng thái Nghiệp Chủng Chúng Sanh vật lộn, thật khó khăn vô kể. Đó phải chăng đồng Tình Trạng gay go mâu thuẩn chăng?

Cho đến nỗi, TA phải Tự Nguyện:Dù Nhân Sanh có bạc đãi Ta Chăng, Ta vẫn đưa cho con người Giác Ngộ. Nực cười thay cho Bổn Nguyện Đồng Sanh, đích chung một lối, diễn tuồng hai phương, nơi Bài Thi Tự Thán ngày 11 tháng 07 năm 1977 (Đinh Tị) rằng:

TỰ THÁN CẢM THI

Chí Tôn. Ngài thấu chăng Ngài.
Thượng Sanh, Hạ Kiếp diễn hai thứ tuồng
Ngài Thái Tử triệu đời vang Tiếng.
Tôi Cư Nhân bốn biển nào hay
Bên vai Bao Đãy ăn mày.
Chung thời một hướng, phơi bày hai phương.
Nói ra Thiên Hạ xem thường.
Nào ai đã hiểu con đường Đồng Sinh.
Thời Hạ Kiếp sống mông mênh.
Thượng Sanh tuy thế dân tình ấm êm.
Hạ Kiếp điên đảo sanh phiền.
Phần tôi gánh chịu, lời nguyền Hạ Lai.
Sức kiệt sức, gối vùn vai.
Chí còn Vận chuyển Phật Đài còn xây.
Làm xong dân chúng sum vầy.
Bóng này đã khuất, Đông Tây khó tìm.
Nhắn lời, Tôi chẳng nói thêm.
Ấn Chỉ Tư, Bảo Phẩm Chân Truyền Nhất Tôn.
Khuyên Phật Tử khéo Bảo tồn.
Còn non Bảo Vật, nước còn trơ trơ.
Còn Tình Chân Tử đón chờ.
Thời còn Hiện Thể, giải mơ phá lầm.
Trăm năm vẫn nhớ trăm năm.
Lời thơ Cảm Thán, Trăng rằm trung thu.

NAM MÔ ĐẠI NGUYỆN DIỆU ÂM PHẬT

6. THUYẾT MINH ĐỒNG ỨNG


Từ khi Phật Đạo hiện hành. Thái Tử Tất Đạt Đa thành Phật, liên tiếp Chư Tổ thừa kế, Chư Bồ Tát đồng sự, kết nạp tinh hoa lời thuyết ngôn tài liệu, trở thành Tam Tạng Kinh Điển. Kinh Điển là một tài liệu quý giá, quý ở nơi nung đúc con người từ nơi mê lầm tác quái trở thành Vĩ Nhân cao quý sống với nhân loài bình đẳng thân yêu, chủ yếu cứu vãng nhân loài vạn vật tránh điều ghét bỏ sát hại lẫn nhau, đồng nương theo tài liệu thực hành lý sự tương song trực giác, gọi là Tri Kiến Giải Thoát.

Hiện nay trên một nghìn năm trăm năm, sự lãnh hội điều hành bị sai lệch, thực tu chưa đầy đủ công năng đúng với tinh hoa Phật Đạo, hiểu biết không đồng khó phát triển, lại thêm vào nơi tài liệu y kinh trở thành giáo điều lạc hướng, dù có kết quả chăng vẫn kết quả nơi nhận định của mỗi bậc tu hành chớ chưa có năng lực trực chứng.

Tài liệu thật dồi dào phong phú, từ lời minh thuyết Phật Ngôn, đến trực chỉ trọng yếu, Nhân sinh, cùng các bậc tu trì, thường nghe hay đọc tụng nhưng hiếm bậc đã hiểu biết chứng thị tu hành. Thật là thuốc hay, linh dược cứu trợ vô cùng tuyệt tác, nhưng chưa biết sử dụng thì sao? Vì nó như thế, nên làm cho Chúng Sanh và Phật Đạo tự mang Mạt Pháp.

Sự đồng ứng vốn như nhiên, do vũ trụ với con người đồng thể, chẳng khác nào bộ máy phát điện cùng với dây điện thường dùng thắp đèn ở các nhà, chỉ có bóng đèn lớn nhỏ khác nhau, đối với đồng ứng cũng như thế.

Muôn loài chúng sanh trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới, tuy khác nhau ngôn ngữ, nhưng thể thông minh vẫn như nhau ,thảy đều đồng hiểu biết, chỉ Dị Biệt phân đối về trình độ cùng giai cấp thôi.

Nơi đồng ứng có lợi về trí hóa, tựa như ngọn ánh sáng để cho Nhân Loại bước đi, nhất là những bậc cải tiến bản thân Đạo Đức, nung đúc từ nơi con người Phàm Phu trở thành Vĩ Nhân hay bậc Thánh Tăng xuất thế. Lại có hại cho kẻ Tự Ngã Cá Nhân, Cá Tánh thọ chấp tự hào, mới tu hành đầu hôm, sớm mai vội cho mình Đắc Đạo, mà sanh ra ngông cuồng Tăng Thượng sa vào đường Ác Đạo.

Những bậc có chí tu đạt Tri Kiến Giải Thoát, hay bậc Vĩ Nhân, thường tự soi nơi bản thân mình đặng bổ sung cho quần chúng, thường tự lượng nơi trí hóa của mình, kiểm lại hành động tư cách đối xử với mọi người. Các bậc nầy thảy đều nhìn nhận Lý Thuyết chớ chưa Thực Hành đặng bao nhiêu, có hiểu như vậy mới cố tiến Lý Sự tương song chân nguyên trực giác. Đó cũng là bậc tự vươn mình hơn con người một bậc.

Đối với tài liệu Phật Đạo là một linh dược tuyệt tác, biết tỏ rõ nguồn mê, do cá nhân tự mãn nên mới thành lập hai chữ TU HÀNH vừa sửa lại bản thân, phải hành sự bên ngoài để tiếp thu bá thiên vạn lối lầm lẫn nơi Đồng Ứng. Có nhiều bậc tu hành kiên sợ đồng ứng tác quái nên tư tưởng hiền lành cốt khỏi sa đọa. Có bậc thường xét lỗi lầm, tự nguyện Sám Hối, tầm phương hóa giải nghiệp thức, nghiệp căn vọng đảo, chuyên trì tu tập bao nhiêu vẫn nhìn thấy chính mình đảo vọng, tìm nơi xa lánh, tận diệt trở thành Tiên Đạo hay hàng Nhị Thừa Tu Chứng.

Chỉ bậc tu đạt Tri Kiến phải lướt qua tất cả những đối tượng bất an của kẻ đồng ứng chưa hòa hộp, cốt dứt đoạn phiền não. Dùng Hỷ Xã khỏi vướng nơi sự lý luân hồi vay trả. Dùng Kinh Điển làm hướng tiến thân tâm. Khi bậc nầy nói lên toàn lời Đạo Đức Chân Thiện. Ngược lại soi lấy thân tâm chưa hẳn đã thực thi đúng, có như thế mới thực hành lý sự tương song, có như vậy mới bĩnh trị lòng tự mãn khỏi lầm lạc cho mình Sở Đắc.

Đối với đồng ứng thì như nhiên sẵn sàng tùy thuận theo sở nguyện của Tứ Loài trong vũ trụ. Từ nơi Thượng cho đến Hạ mỗi mỗi đều tùy thuận đồng ứng. Từ con người cho đến Tiên Thần Thánh Hóa phải lầm nơi đồng ứng.Thật là bản thể như nhiên bình đẳng một khi bậc tu đạt quả vị Vô Thượng Chánh Giác mới tường tận, ngoài ra lầm mê khó nhận chân ra như nhiên bình đẳng nổi.

Vì sao? Vì các Thú Vui bình đẳng đồng ứng cho khắp GIỚI ở các Cảnh Giới, các Cõi cho đến tầng lớp con người, từng trình độ và giai cấp thảy đều nhận thấy thú vị. Như: Bậc thích Đánh Cờ Tướng hay Chơi Tiên hoặc giỡn tiền bằng lối Cờ Bạc, từ nơi này chốn kia, Tịnh hoặc Bất Tịnh cho đến Môn Phái cùng các Tôn Giáo tu hành, mỗi cuộc chơi đều có thú vị nơi cuộc chơi, mỗi Môn Phái Tôn Giáo đều có màu sắc thú vị, sự thú vị tuy riêng, nhưng THỂ thú vị vẫn chung thú vị đồng đẳng. Có phải đồng đẳng như nhiên chăng?

Có thể nói: Bậc Đánh Cờ Tướng, say sưa thú vị nơi đánh cờ, lại ghét kẻ Chơi Tiên, kẻ chơi Tiên ghét người Cờ Bạc, kẻ cờ bạc mê man cờ bạc, chẳng ưa thích những bậc tu hành, thậm tệ bậc tu hành chẳng ưa Tôn Giáo sắc thái khác nhau, hoặc Tông này chỉ Tông kia làm nơi mâu thuẩn. Nó như thế nên mới tự sanh bất đồng, nơi bất đồng chia thành từng Giới Đồng để từng Giới ưa chuộng nhau, có phe phái, đồng với chưa đồng nơi nghiệp thức đồng ứng tương sanh bất ổn định.

Phật và Chúng Sanh chỉ hơn nhau nơi Tận Biết và chưa được biết. Nên Phật thời không có GIỚI. Chúng Sanh có giới bị lầm mê. Phật Không Giới tròn Giác.

THẾ NÀO LÀ KHÔNG GIỚI TRÒN GIÁC?

Khi Đức Quan Thế Âm Như Lai Phật, cho đến sau này Quán Thế Âm Bồ Tát. Sở Đắc viên dung bình đẳng đồng ứng Như Lai, phát nguyện nơi Phổ Môn Kinh bất cứ mỗi một ai, tùy theo sở nguyện liền hiện thân thuyết pháp, Ngài nói: Bà La Môn, Ưu Bà Tắc, Ưu Bà Di, vv... cầu lấy Ta, Ta liền hiện thân Bà la môn, ưu bà tắc, ưu bà di thuyết pháp. Đó phải chăng đồng ứng hiện thân đồng đẳng không Giới Hạn biệt phân, trở thành Tu Quán Như Lai, đặng Như Lai thọ ký chăng?

Tài liệu Phổ Môn Kinh là một tài liệu tuyệt tác chỉ thẳng cho đời này, đời sau các bậc tu hành chớ Tịnh mà tán dương, Bất Tịnh chê bai phân đối đặng chính mình tu Phật Thừa khỏi gián đoạn tu Như Lai thề nguyện sự. Thật là một môn thuốc hay, linh dược khéo làm cho bậc tu hành biết sử dụng, liền đặng TRI KIẾN Như Lai chánh giác.

Thời quá khứ, Tiền Thân Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Còn hiện thân Bồ Tát, gọi là: THƯỜNG BẤT KHINH Bồ Tát, nơi Kinh Pháp Hoa nói:

Khi bấy giờ Thường Bất Khinh Bồ Tát sở đắc Hiện Nhất thiết sắc thân Tam Muội. Nhìn thấy tất cả Chúng Sanh đều là ứng thân Phật hiện thị hiện, Ngài đặng biết đồng ứng Như Lai, hiện hành bá thiên vạn hạnh, đi đứng nằm ngồi đầy đủ tư cách tốt xấu sạch dơ. Ngài liền đến từng người lễ bái thưa gởi: CHÍNH CÁC ÔNG LÀ PHẬT. Tất cả thảy đều cho Thường Bất Khinh điên. Chớ nào hay, nào biết đặng Bậc say sưa đánh cờ kia mà say sưa Đạo Phật tu vẫn thành Phật. Kẻ chơi Tiên chìm đắm nọ, mà tu trì chìm đắm tỏ ngộ vẫn đặng thành Phật thì sao? Đó là Không Giới Tròn Giác vậy.

Thuyết Minh Đồng Ứng là một pháp môn phẩm hạnh nhiếp độ, Chư Bồ Tát phụng hành, Chư Phật vẫn ứng dụng. Chư Tiên Thiên cho đến hàng sơ trụ vẫn lầm lạc, làm sao tất cả bậc tu hành khỏi lầm nơi đường tu của mình mà tránh khỏi thọ ngã.

Thật cao siêu ý nhị thay cho đồng ứng. Từ hàng Thi Văn, Văn Hào, cho đến Thuyết Minh Vĩ Nhân bằng biện. Từ nơi Gia Cát Khổng Minh cho đến Lão Tử, Mạnh Tử cùng Khổng Tử chỉ thuyết minh đồng ứng chớ chưa tận dụng bản năng. Vì như thế nên miệng chính mình nói, nhưng tâm mình chưa biết mà nơi miệng đã nói.

Các Bậc tu hành nên khôn khéo, nên thịnh trọng lúc đang tu, khi thuyết pháp rất hay in tuồng Thánh Tăng hoặc Tiên Thần Thánh ý. Nhưng ngược lại chính bản thân nơi mình chưa hiểu đặng lời thuyết minh trên, hay chưa đặng quả vị như thế để tương xứng, chớ nên thọ ngã. Chư Bồ Tát đã gặp trường hợp như vậy, liền thưa gởi với Phật. Phật dạy:Chính Ông tín ngưỡng trực tâm, trực thọ, nên nương vào Công Đức Như Lai mà thuyết pháp.

Có bậc tự tu nơi tự tánh hóa giải các chấp nghi, nhờ như thế bắt đầu phát trí tuệ, thường tĩnh tọa nơi thanh vắng, suy nghĩ tự giải đáp nơi chỗ nghi ngờ, hoặc có bậc khá hơn đương nhiên tự nơi mình thuyết pháp với mình. Khi mở quyển Kinh Hoa Nghiêm mới thấy lời Phật nói:Các ông nên biết Bồ Tát nương nơi Công Đức Như Lai. Tĩnh Tọa an nhiên, đồng thuyết pháp cho vô số Chúng Sanh nơi mình đặng nghe pháp, lãnh hội thời thuyết ngôn, tất cả thảy đều đặng nhiều môn giải thoát, đó là những vị đã từng cúng dường Như Lai nên ngày nay mới nói như thế. Bậc này tán thán vô lượng kinh pháp, kinh pháp nhắc nhở cho Bậc đang tu hành qua từng kiếp quên nhớ, ngày nay đồng ứng mà nhớ.

Thuyết Minh Đồng Ứng rất dễ lầm, dễ nhận, đối với kẻ Thiếu Trí Đa Văn ưa thích kỳ vọng mà lầm nhận. Còn ngoài ra Bậc tu cầu chánh giác biết trọng bản năng Công Đức Phẩm. Mỗi một khi buông thả nương vào đồng ứng thề nguyện học. Bậc này có trạng thái xét lại bản năng, Đạo Hạnh cùng Đức Trí cốt chứng tri căn bản, thật khó lầm nhận phút cuối của một thời đang tu.

Thời bấy giờ có vị Thiền Sư Bồ Tát sở đắc thần thông, dạo khắp Tam Thiên thế giới Rồng Người. Khi dùng Lậu Tận Thông biết đặng Nghiệp lậu chúng sanh. Dụng Tha Tâm Thông tỏ rõ tâm chí rồng người. Dùng Túc Mạng Thông quán sát tuổi Thọ từng các Cảnh giới. Dụng Thần Túc Thông, tận rõ nơi Thọ Ngã Chư Tiên Thiên. Thiền Sư Bồ Tát tận dụng thường dùng Ngũ Nhãn, Lục Thông, đo lường tất cả Nhân Thiên, Tiên Loài thảy đều Chánh Báo bị sanh gây tạo thân hình, thân mạng không thực thể. Vị Thiền Sư Bồ Tát ngạc nhiên tự thốt ra nơi cửa miệng: Lạ thay, có thân mạng chưa có Chủ Quyền, sống theo sanh diệt Đồng Ứng, chưa Tận Giác, chỉ là CON NỘM mà thôi.

Nay Ta công dụng Thần Thông Đồng Ứng Nhãn Tạng trí hóa đặng biết vẫn lầm nơi Pháp Giới tận biết, tận biết từ ngoài đến trong, từ trên đến dưới mà chưa tận giác Thân Mạng nơi Ta, chưa thấu tường tận bản thân, Thị Chứng đường dây Sanh Tử, thì làm sao Tận Giác?

Vị Thiền Sư Bồ Tát tự hỏi xong, lặng lẽ đến một phiến đá an dưỡng, đồng soi khắp thân tâm qua hàng trăm tuần, nghìn lớp lớp, thời gian tận giác, chứng thị Chánh Giác.

Sự Đồng Ứng như nhiên bình đẳng giúp ích về Trí Tuệ tư tưởng, thâu đạt Tam Thân Tứ Trí Ngũ Nhãn Lục Thông lần đến Chánh Giác, đối với bậc nương theo để tiến bộ. Bằng Thọ Chấp, Thọ Ngã thảy đều không lợi ích, phải vươn mình trong sanh tử quay cuồng. Nên chi Đức DI LẠC TÔN PHẬT đương thời Hiền Kiếp, Ngài mới để lại bài Thi:

KHUYẾN - TU

Ghét Thương phải quấy, biết bao là.
Xem Xét đo lường giữ lấy ta.
Tâm để rỗng không, thường nhẫn nhục.
Bửa hằng thong thả phải tiêu ma.
Nếu người tri kỷ nên an phận.
Dẫu kẻ oan gia vẫn cộng hòa.
Miễn tấm lòng nầy không quái ngại.
Mười phương chứng đặng Lục Ba La.

TỊNH VƯƠNG NHẤT TÔN

7. THUYẾT MINH ỨNG HIỆN


Thuyết Minh Ứng Hiện, chính một thuyết minh đầy đủ Công Đức Như Lai, Có Ứng liền HIỆN thân BỒ TÁT PHẬT hay Bồ Tát Ứng Thân liền sau khi đặng lời Khai Thị của bậc Chánh Giác.

Sự Ứng Hiện là sự chờ Khai Thị Chứng Minh, ngoài ra không thể dùng vọng tưởng, thường tưởng nào mà đặng sự Ứng Hiện.

Khi từ nơi tư thế Chúng Sanh Giới phải sống, bị sống không ngoài Chúng sanh Tánh, Chúng sanh Tánh chia ra bá thiên vạn loại, từ nơi Thượng Sanh đến Hạ Giới. Từ chốn Tiên Thần Thánh Hóa cho đến nhân loài trong Sáu Đường đến Địa Ngục. Mỗi Cõi, mỗi Cảnh Giới thảy đều bị trị trong chế thế qui định. Do đó nên mỗi nơi đều có tập quán, thường quán, tập nhiễm, thường nhiễm, không ngoài THANH THÔ TẾ NHỊ mà bị bổ sung sanh tử trong Ba Cõi Sáu Đường, chỉ vì Chúng Sanh Tánh Ứng Hiện có khả năng mức độ như thế mà thôi.

Lúc Chúng Sanh Giới ấy Phát Bồ Đề Tâm tu tập, phải dứt khoát GIẢI TÂM bị trị nơi Chúng Sanh Tánh ấy mà nung đúc, Cải hóa Chúng sanh Tánh trở thành Tiên Thần Thánh Hóa Tánh, để thừa hưởng Ứng Hiện nơi Tiên Thần Thánh Hóa. Sau khi đầy đũ Công Đức trọng lượng chất lượng, phẩm lượng, gặp đặng Vị Đại Tiên, Đại Thiên, Đại Thần Thánh Hóa khai thị hộp hóa liền Ứng Hiện Tiên Thần Thánh Hóa. Bằng gặp đặng Phật thời vẫn chưa Ứng Hiện đặng Bồ Tát Hóa Thân, vì sao? Vì đang tập nhiễm SẮC THÂN nên phải trải qua tu hành Bát Nhã Trí cốt Thâm Nhập Pháp Giới Thọ Ngã Bị Giác, do đó nên chưa Ứng Hiện.

Bằng Bậc sẵn có Căn Tánh của Thiên hoặc Tiên Thần Thánh Hóa, bị sanh ứng hiện trong Cõi Đời, phải chịu sống theo Sáu Đường như tất cả Nhân Loài. Lúc gặp đặng Phật. Những bậc nầy tuy thân mạng con người, dù cho giàu sang hay cực khổ vẫn có tư cách đạo mạo khang trang, cử chỉ thanh thoát đẹp.

Nhưng có một nỗi, nặng về Hình Sắc quan niệm nơi Thân Phật thị Hiện, hơn là tu hành Tự tánh, chiêm ngưỡng lễ bái hơn là lãnh giáo của Chư Tăng. Do nơi Thiên Pháp tập nhiễm thọ chấp, tu như thế khó thành tựu chứng tri Bồ Tát Hạnh, được gọi là Nhị thừa tu chứng.

Lại có bậc, có sẵn Căn Tánh của Thiên hoặc Tiên Thần Thánh Hóa, bị sanh ứng hiện giữa Cõi Đời như trên đã nói: Nếu gặp đặng Phật. Nhãn Quang phong phú, nhìn đặng thể cách bình dị của Như Lai thị hiện, sinh lòng ái kính. Khi nghe đặng lời khai thị, toàn thân Long mạch của bậc ấy viên thông, tất cả Sơn Hà Đại Địa rung chuyển, liền lễ bái thọ trì xưng tán, chưa bao giờ nghe, nay đặng nghe lời khai thị, chưa bao giờ thấy nay đặng thấy chơn tướng trực giác, liền đặng Giải Tâm Sắc Tướng về Như Tướng, tu hạnh Bồ Tát Nguyện. Những bậc nầy thường đứng về Nhân Thiên Hạnh trong hàng Trưởng Giả Chúng tu tập.

Đối với Phật Thị Hiện tùy nơi Thời Căn của Chúng Sanh mà Thị Hiện. Khi gặp Thời Căn nơi Chúng Sanh đầy đủ sung túc lại bị chìm đắm nơi Tướng Dục Hư Vọng, tưởng vọng xa hoa Lọng Phướng. Phật bảo phải Xuất Gia tu tập Thiên Thừa Hạnh, cốt xuất ly Danh Giả Tướng, áp dụng bằng CHỮ KHÔNG, lối nầy điều ngự Dục Vọng, khắc phục Tham Vọng trở về Như Nhiên trực giác. Nếu dụng lối CÓ chẳng xuất ly không dứt ái thời tất cả chẳng lãnh hội đặng phải lâm nơi Dục Tướng Danh Giả khó mà Tri Kiến Giải Thoát.

Đến Thời Căn Chúng Sanh đói khổ, dùng nơi năng lực khai thác mưu sanh trong hiện vật để sinh sống, ngành trí hóa văn minh thực chất. Chẳng thể nào Dụng Lối Không hướng dẫn trên con đường Tri Kiến, nên chi Phật Thị Hiện phải ĐỒNG HÓA chúng sanh Dụng Lối Có để Hóa Độ. Khi đã Dụng Lối Có thì có trăm phương vạn lối diễn hành. Tâm không nhiễm trước giác hoàn Thể Chân.

Phật ra đời tùy Căn Cơ, căn tánh khai thị lần đưa cho Chúng Sanh Tánh biết Hướng Thượng, mở mang Tâm Thức trở thành Bồ Tát Tánh. Bồ Tát Tánh có đồng Thể Chất bao dung giúp đỡ từng lớp chúng sanh không quái ngại, lấy sự tiến hóa nơi chúng sanh giới về với chính bản thân Bồ tát an vui, Phật Tánh cũng như thế. Phật ra đời không thể nào khai thác CĂN NGHIỆP của chúng sanh, mỗi một khi chúng sanh Thọ Giới bị thọ chấp căn nghiệp kiến tạo thành hình Nhị Thừa tu Chứng hoặc giả thọ Căn Nghiệp Tiên Thần Thánh Hóa, hay Ngạ Quỷ Súc Sanh đến Địa Ngục, Phật đành phải chịu. Chỉ có những bậc tự nơi bản thân của mình, nhất niệm hóa giải lấy mình thoát khỏi căn nghiệp của mình mà thôi, đó là lời chân thật nên có câu: Phật bất hoá độ vô duyên. Bất hoá độ định nghiệp.

Khi gặp Phật chỉ đạo, thì cuộc hướng dẫn rất toàn thiện khéo léo, tùy Thời Căn, tùy căn cơ lại vẫn tùy thuộc nơi căn tánh Bồ Tát mà chỉ dạy. Tuy nhiên nơi hai lối DỤNG: KHÔNG cùng CÓ, nhưng sự tận độ như nhau. Chẳng phải vì KHÔNG mà quán Hư Không chẳng nói năng bày biện. Chẳng phải vì CÓ mà bắt buộc Bồ Tát phải bị đóng trong khuôn pháp giới để tỏ ngộ đâu.

Sự Diệu Dụng không ngoài: HỶ NỘ ÁI Ố đến Thường lạc Ngã Tịnh. Chư Bồ Tát đang tu hành chưa tận giác, chưa tỏ thông căn tánh tu nơi bị biết thường hay Thọ Căn tạo nghiệp, chấp nhận lấy Hỷ thọ ngã chứng từ nơi tu chứng, hay nhận NỘ để đánh đuổi Ma Nghiệp giải nghiệp cho chúng sanh hoặc dùng ÁI để thương mến ái nịch chúng sanh thoát khỏi nơi sanh tử hay dùng Ố để làm nhục thể cứu độ chúng sanh. Từ nơi Thường Lạc Ngã Tịnh, cho đến Hỷ Nộ Ái Ố, nếu lấy đó làm nơi trụ xứ thảy đều vương nơi Căn Nghiệp, đối với Phật vẫn không giải nổi.

HỶ NỘ ÁI Ố THƯỜNG LẠC NGÃ TỊNH là pháp môn Diệu Dụng của Phật. Tùy căn tánh Phật phải Thị Hiện để hướng dẫn Bồ tát thọ chủng tánh, chớ chẳng phải nơi trụ xứ chứng tri của Phật.

- Có bậc tu hành vì bối cảnh chưa qua nổi pháp giới, tâm thức buồn chán. Phật liền dùng HỶ diễn nói Quốc Độ Tịnh Độ, sự trang nghiêm của Chư Phật làm cho Tâm ý hóa giải lướt qua pháp giới an lành.

- Có bậc vì dễ ngươi gần Phật, thường phạm giới sát sanh hay gây gỗ Tứ Chúng. Phật phải dùng NỘ để nói lên, làm cho bậc kia hồi hướng tu hành.

- Có bậc tâm chí lững lơ. Phật phải dùng ÁI dỗ dành, làm nơi nương tựa lần tiến trên bước đường tu tập. Lại có bậc bảo tồn quả vị, chẵng dám vào nơi bất tịnh cứu độ. Phật liền Hiện Thể Ố để cho bậc kia noi gương trên bước đường hạnh nguyện hoàn mỹ.

- Có bậc điên đảo vọng khởi bất an. Phật hướng dẫn THƯỜNG LẠC NGÃ TỊNH cốt cho bậc kia tỏ ngộ nơi thường chân liễu ngộ. Chớ nào phải nơi trụ xứ mà các bậc tu hành phải mang vào nơi Trụ Chứng?

Nơi ỨNG HIỆN của Chư Bồ Tát, Phật rất tường tận vi tế tỏ tường từ lúc khởi duyên. Còn Chư bồ Tát đang tu hành chưa bao giờ nhận chân nguyên nơi phát hiện. Bằng nhận được chỉ trừ ra Thọ Ngã mới nhận mà thôi. Nếu thọ ngã Phật xem như đã thọ nghiệp không thể nào đưa nổi hoặc cứu độ đặng.

Đối với tất cả Chúng Sanh Giới thảy đều có Thiện Căn Vô Thượng. Nhưng gặp phải những bậc gieo duyên chưa toàn thiện. Bậc gieo duyên chưa toàn thiện chưa phải là bậc không có Tâm Chí cứu độ đâu, chỉ vì những bậc ấy tu hành chưa rốt ráo, bị nơi thọ ngã bất ngờ ngỡ mình thành Phật, do đó nên chi hiện nay có hằng hà sa số bậc thầy chỉ đạo sai biệt với hoàn chân của Chư Phật, cho nên mới có bậc gặp Phật chỉ đạo liền thành Phật. Gặp Bồ Tát hướng dẫn đặng thành Bồ Tát, gặp Tiên Thần Thánh Hóa tu luyện đặng thành Tiên Thần Thánh Hóa. Bằng gặp phàm phu hướng dẫn phải chịu thờ cúng yêu ma Cô Cậu, đó là một lẽ thường.

Đứng về phục diện nơi Phật, nhìn đến Chúng Sanh trong Tam Thiên Đại Thiên thế giới Rồng Người. Từ thế gian đến xuất thế gian, thảy đều là:Bồ Tát tự nguyện Thọ Giới cúng dường Như Lai lớp lớp Hành Nguyện mũ áo cân đai cho đến kẻ ăn xin tơi tả đầy đủ hình thức sắc thái nơi thế gian cùng xuất thế gian, nên gọi là Bồ Tát Vạn Hạnh Thọ Giới.

Khi Bồ Tát tự nguyện cúng dường Như Lai Phật, Chư Bồ Tát đồng hiện đồng hóa, trở thành Mật Thể và Như Tướng, vì như thế nên chi Bồ Tát mới hóa thân Sơn Hà Đại Địa chủ yếu mát mẻ Như Lai, Ứng Cúng Chánh biến, có từng lớp lớp, từ cây cỏ đến suối đèo, từ ẩm thực đến hoa quả. Thế Giới gọi là Thiên Tạo.

Đồng thời Chư Bồ Tát hiện hàng hàng lớp lớp Pháp Giới để Thọ Giới đầy đủ trang nghiêm cung thỉnh Như Lai Phật, cúng dường ngôi Tam Bảo tất cả các Bảo Châu:Ngọc Bích, Xa Cừ, Mã Não, San Hô, Hổ Phách cùng Lọng Phướng xe giá, kèn trống tiễn đưa, đón rước Chư Phật mười phương tề tựu đàm luận cùng thảo luận, Bồ Tát chủ yếu chứng tri Công Đức, Bồ Tát tự nguyện, an trú pháp giới cúng dường, từ đời đời kiếp kiếp. Có như thế, hành như thế nên chi Chư Bồ tát thảy đều là Cái Dụng của Như Lai.

Khi bấy giờ Bồ Tát, mong TRI KIẾN PHẬT thì làm như thế nào để Tri Kiến? Bồ Tát phải GIẢI GIỚI. Bồ Tát giải giới, Bồ Tát phải tận độ Chúng Sanh Giới, do đó nên chi Bồ Tát nhìn thấy tất cả thảy đều là vạn pháp ràng buộc chúng sanh chịu giới cực khổ, Bồ Tát nguyện đem thân mạng trí tuệ tay chơn đầu cổ bố thí chúng sanh thoát khỏi pháp giới, làm nơi an lành của Bồ Tát nguyện.

Bồ Tát nguyện ra vào Địa Ngục Giới, lãnh lấy sự khổ đau ngục hình, hoặc giả hứng chịu kẻ kia chửi mắng hành hạ thân mạng, để cho chúng sanh hóa giải nghiệp lậu đặng thoát khỏi ngục hình. Nguyện như thế làm như vậy, Bồ Tát làm nơi an lành của Bồ Tát nguyện.

Lúc Bồ Tát Hành Nguyện đồng với Hạnh Nguyện, Bồ Tát không bao giờ nhàm chán, Bồ Tát say sưa nơi nguyện, vì sao? Vì bản năng thực thể mong đợi Tri Kiến đánh đổi lấy tri kiến. Do đó nên chi Bồ Tát lìa tất cả mà không nhiễm ái, cúng tất cả mà chẳng nhiễm chấp, đưa tất cả mà chẳng nhiễm trần cấu.

Bồ Tát Hành Nguyện, Hạnh Nguyện như thế, vươn mình đánh đổi như vậy. Bồ Tát sở đắc Pháp Giới tận biết đặng Pháp Giới kết nạp trở thành vợ con, chồng vợ, trai gái, nam nữ, phải chịu nơi Pháp giới trăm phương vạn cảnh, sướng khổ do nơi lầm lẫn chìm đắm nặng nhẹ mà thọ nghiệp, thọ chủng, thọ ái, thọ sanh, thọ tử liền sở chứng Vô Sanh.

Khi bấy giờ Bồ Tát lấy đạo tràng làm thú vui tạm trú, lấy mức tiến làm món ăn nơi ở hàng ngày, lấy bao dung rộng rãi xây dựng Tịnh Độ của Bồ Tát. Bồ Tát Hành Thâm Pháp Giới nhiếp độ hóa giải pháp giới. Từ nơi Vinh, Bồ Tát nhìn nhận thoảng qua không lấy đó làm nơi trụ xứ. Từ chỗ Nhục, Bồ Tát vẫn tái tê nhưng chẳng lấy đó oán hờn, Bồ Tát nhất tâm đảnh lễ, tự nguyện tất cả thân mạng đều cúng dường Như Lai, chẳng còn chi nơi Bồ Tát, đặng Pháp Đảnh Như Lai Thọ Ký. Bồ Tát liền sở đắc Tận Giác tất cả pháp giới chưa phải của Bồ Tát liền đặng giải giới, đặng Chư Phật Thọ Ký lãnh lấy ỨNG HIỆN THÂN BỒ TÁT.

Bồ Tát trải qua vạn hạnh, vạn nguyện, Bồ Tát mới nhìn nhận: tất cả Chúng Sanh Giới, từ hàng nhị thừa tu chứng cho đến Tiên Thần Thánh Hóa chỉ hơn nhau nơi THANH và THÔ, chớ nghiệp chủng nơi chúng sanh tánh còn nguyên vẹn .

Do đó nên nào đặng hay, nào có biết, nên chi lấy GIỚI tạo ra GIỚI mà an hưởng. Khi pháp giới ứng hiện trong pháp giới, chúng sanh giới nhìn thấy đều là HOÀN CẢNH ràng buộc, vợ con Trai Gái đều nằm nơi ái nịch, ái dục hình thành. Lúc xuất gia tu tập phải ly thân cắt ái, tránh nơi ô trược, phiền não trược đến chốn an nhàn pháp giới mà an trú xứ sở, trở thành Nhị Thừa Tu Chứng.

Còn những bậc chưa tu hay đã tu, hoặc đã đặng tu vẫn nhất tâm chúng sanh tánh cầu vái an lành, hoàn cảnh may mắn, cầu lấy phước báo Nhân Thiên, để cho đặng sống an hưởng nơi Chúng Sanh Giới, có như thế, làm như vậy, liền có hàng hàng lớp lớp phải thọ giới đời đời tri kiến nơi chiêm ngưỡng lễ bái Phật Đường, Phật thảy đều hiện nơi pháp giới của Chúng Sanh Giới vậy.

NAM MÔ ĐẠI LỰC NHƯ LAI TÔN PHẬT